Kênh Tên Miền chuyên cung cấp tên miền đẹp, giá rẻ! Hãy liên hệ kỹ thuật: 0914205579 - Kinh doanh: 0912191357 để được tư vấn, hướng dẫn, Cảm ơn quý khách đã ủng hộ trong thời gian qua!

Quảng cáo

Xây dựng thương hiệu cho một tên miền...

Thương hiệu là một cái tên, một khẩu hiệu, một biểu tượng hay một bản thiết kế dễ nhận dạng nhằm đại diện hợp pháp cho một công ty hay cho những sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp...

Kênh tên miền chuyên mua bán tên miền quốc tế...

Những năm gần đây, tầm quan trọng của internet trong truyền thông, công nghệ thông tin và thương mại điện tử được các cơ quan doanh nghiệp chú trọng hơn rất nhiều, nhu cầu mua, thói quen mua bán trực tuyến cũng tăng cao, đặc biệt là trong giới trẻ....

Tên miền giúp bạn tạo sức mạnh để thành công

Khi tạo dựng một thương hiệu người ta nghĩ ngay tới một cái tên, và khi marketing o­nline họ sẽ nghĩ ngay tới tên miền dễ nhớ và dễ quảng bá website sao cho hiệu quả nhất...

Đầu tư cho tên miền đẹp là đầu tư cho sự phát triển

Với 21 triệu người sử dụng internet ở Việt Nam, tìm kiếm trên mạng là một trong những hành vi chủ yếu khi sử dụng internet. Việc có tên miền đẹp, dễ nhớ, thân thiện với công cụ tìm kiếm, có thể ví như có một vị trí đắc địa để hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp lọt vào tầm ngắm của người dùng. Từ vị trí đẹp đến ngôi nhà đẹp...

Hình Thức Thanh Toán khi bạn mua bán tại kênh Tên Miền

KenhTenMien.com hiện tại chấp nhận một số hình thức thanh toán tên miền phổ biến bao gồm:Paypal: Nhanh chóng, tiện lợi cho 2 bên.Chuyên khoản ngân hàng (Bank Wire). Giao dịch trực tiếp: Lấy địa điểm thành phố Đà nẵng làm trung tâm gặp gỡ trao đổi.Khế ước (Escrow.com) – có tính phí ( mỗi bên chịu 50 phần trăm phí tại đây)....

Tuesday, January 31, 2012

Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM

Làm thế nào để phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em. Bố Mẹ cần phải quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ như thế nào?

Suy dinh dưỡng do thiếu protein- năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành.
Năm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều “nhỏ bé” như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người.

Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tăng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi.

Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển:
Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn. Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng của trẻ nhỏ . Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ăn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ăn bột muối, thức ăn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ăn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ăn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ăn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ.
Người mẹ bị suy dinh dưỡng : Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ăn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.
Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.
Thiếu chăm sóc hay đứa trẻ bị “bỏ rơi”: Ngoài chăm sóc về ăn uống, đứa trẻ cần chăm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chăm sóc về tâm lý, tình cảm và chăm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ăn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.

Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.
Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.
Trẻ đẻ nhẹ cân ( <2500g), trẻ để sinh đôi, sinh ba.
Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.
Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp …

Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:
Chăm sóc ăn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tăng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.
Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.
Cho trẻ ăn bổ sung (ăn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tăng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ăn nhiều bữa.
Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.
Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ăn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.
Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp năng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.
Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ăn không là nguồn gây bệnh.
Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành mạnh. Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.

Sử dụng cốm bổ trẻ em CataKids giúp cho trẻ giảm thiểu tốt nhất khả năng suy dinh dưỡng, giúp trẻ ăn ngon, phát triển tốt về chiều cao, cân nặng …

THEO TT_BYT

Cốm bổ trẻ em, tăng chiều cao, kick thích ăn uống

Công dụng:
- Tăng cường phát triển chiều cao.
- Chống còi xương, suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ.
- Tăng cường phát triển não bộ.
- Tăng cường tiêu hoá, hấp thu, phòng và hỗ trợ điều trị bệnh đường tiêu hoá.
- Tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.
Thành phần sản phẩm Cốm bổ trẻ em Catakid : Vi D3, Calcilactat, L-Lysin, DHA, Taurin, Vitamin B1, B2, B6,PP…

Liều dùng :
- Trẻ em từ 7 tháng đến 10 tuổi: Ngày dùng 1-2 gói sau khi ăn.
- Trẻ em trên 10 tuổi: Ngày dùng 2-4 gói, chia làm 2 lần sau khi ăn.
- Mỗi đợt dùng 4-6 tuần, năm dùng 3-4 đợt.

Cách dùng : ăn trực tiếp hoặc hoà với nước uống hay trộn cùng thức ăn -  Cốm bổ trẻ em Catakid có tác dụng tốt khi dùng lâu dài

Sản phẩm phân phối tại các nhà thuốc, siêu thị và hệ thống đại lý trên toàn quốc
Hoặc liên hệ ngay để đặt hàng:
Đông Dược Hoa Lâm
Địa chỉ: Số 14/85 Phố 8-3, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84-4) 3862 5102- 3636 8345 * Fax: (84-4) 3636 8345

Massage giúp cải thiện trọng lượng, tăng cân cho trẻ sinh non

Liệu pháp massage vừa phải có thể giúp tăng cân cho trẻ sinh non, các nhà nghiên cứu tại Trường ĐH Y Miami cho biết.
Các thử nghiệm ban đầu nhận thấy trẻ sinh non đã tăng cân sau 5-10 ngày áp dụng liệu pháp massage, mặc dù lượng thức ăn dinh dưỡng và tổng giờ ngủ không tăng lên.

Để xác định nguyên nhân đem lại lợi ích của liệu pháp massage , nhóm nghiên cứu của bác sĩ Miguel A. Diego và các trợ lý tại Trường ĐH Y Miami đã chọn ngẫu nhiên 48 trẻ sinh non, chia làm 3 nhóm được massage vừa phải, massage nhẹ và không áp dụng liệu pháp massage. Số trẻ này được đo các hoạt động của tim và dạ dày trước, trong và sau khi được hoặc không áp dụng liệu pháp massage vào ngày đầu thử nghiệm.

Liệu pháp massage mức độ vừa phải được thực hiện ở bụng đứa trẻ, vừa đủ để làm da bé chuyển màu, từ màu hồng sang màu trắng hoặc làm da hơi lõm vào. Massage nhẹ cũng tương tự, nhưng không làm chuyển màu da hoặc không làm lõm da.

Kết quả, những trẻ sinh non ở nhóm được massge vừa phải tăng 27% trọng lượng so với hai nhóm còn lại. Các phân tích chuyên sâu cho thấy điều này có liên quan đến việc cải thiện sự chuyển động của vùng bụng.

Ngoài liệu pháp massage cần phải có các chế độ dinh dưỡng cho trẻ phù hợp sẽ giúp trẻ cái thiện thể trọng rõ rệt.

Kết quả nghiên cứu được công bố trên tờ tạp chí Khoa nhi .

Theo T.Vy
Tuổi Trẻ/Reuters

Dinh dưỡng cho não bộ trẻ trong những năm đầu đời

Ngoài việc ngăn ngừa sự thiếu dinh dưỡng, dinh dưỡng hợp lý còn giúp cho sự phát triển trí tuệ từ bình thường đến mức tối ưu tiềm năng trí tuệ của trẻ em.

BS Huỳnh Kim Chi, Phòng Dinh duỡng lâm sàng, TT Dinh dưỡng TP.HCM nhận định: “Sự phát triển của trí não của trẻ em có thể phân thành 2 giai đoạn, giai đoạn trong bào thai và giai đoạn 6 năm đầu đời. Trong cả 2 thời kỳ này, chế độ dinh dưỡng cần phải đa dạng để cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm gồm chất đạm, chất béo, chất bột đường và viatamin cùng các khoáng  chất”.

Giai đoạn trong bào thai
Theo BS huỳnh Kim Chi: “Não phát triển rất nhanh và rất sớm từ trong bào thai. Ngay từ những tuần đầu tiên, khoảng 250.000 tế bào phát triển trong 1 phút và kéo dài trong 3 tháng. Các tế bào này liên kết hay kết nối với nhau để hình thành việc nắm bắt thông tin cũng như đưa ra hoạt động khi cần cho toàn cơ thể”.

Do đó, vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em ở những năm đầu đời rất quan trọng. Dinh dưỡng ảnh hưởng đến các chức năng của não, mọi sự thiếu hụt dinh dưỡng trong thời kỳ này dễ dẫn đến tình trạng bị suy dinh dưỡng bào thai và ảnh hưởng tới sự phát triển trí não của trẻ trong tương lai.

Trong giai đoạn này, ngoài lượng calori bình thường, người mẹ cần ăn thêm khoảng 300 calo/ngày, trong đó lưu ý bổ sung các chất đạm, chất sắt, axit folic, i-ốt.

Cụ thể, chất đạm cần tăng thêm 15g/ngày, tương đương với 2 ly sữa hay 100gr thịt, cá hay 2 quả trứng, hoặc 1 miếng đậu hủ 200gr. Với I-ốt, là chất cần thiết cho sự tổng hợp hormone tuyến giáp, là loại hormon quan trọng trong việc phát triển hệ thần kinh trung ương. Nếu thiếu I-ốt, người mẹ có thể bị sảy thai hay trẻ có nguy cơ chậm phát triển trí tuệ, nặng hơn sẽ trở nên đần độn.

Chất sắt và chất axit folic là 2 chất dinh dưỡng đặc biệt quan trọng trong giai đoạn thai kỳ vì nó giúp phòng chống thiếu máu cho cả mẹ lẫn con. Đồng thời còn giúp giảm các tai biến sản khoa, giảm nhiễm trùng hậu sản, tránh cho trẻ có nguy cơ bị dị tật ống thần kinh, đồng thời tránh được tình trạng ảnh hưởng tới chỉ số thông minh (IQ) ở trẻ do thiếu máu.

 

Giai đoạn 6 năm đầu đời
Trẻ phát triển và tăng trưởng rất nhanh về thể chất và trí não, đặc biệt là năm đầu tiên. Khi sinh trọng lượng não chỉ nặng 350g, đến 1 tuổi nặng 900g, 2 tuổi bằng 80% não người trưởng thành và 6 tuổi não đạt 100% kích thước não người trương thành (1.300g).

Trong giai đoạn này ban đầu sữa mẹ sẽ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ, cần một chế độ dinh dưỡng đa dạng để có thể cung cấp đầy đủ 4 nhóm thực phẩm gồm chất đạm, chất béo, chất bột đường và viatamin cùng khoáng chất.

Chất đạm có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu nành, và các loại đậu khác… chất đạm sẽ cung cấp các axit amin là các chất quan trọng giúp dẫn truyền thần kinh.

Chất béo là nguồn nhiệt lượng thiết yếu cho sự tăng truởng và phát triển của hệ thần kinh. Có nhiều loại chất béo đặc biệt cần thiết cho não như Omega 3, có trong các loại cá hồi cá thu, cá trích, cá basa…. Omega 6, có nhiều trong hạt mè, hạt hướng dương, hạt bí đỏ. Ngoài ra, còn có các chất béo Cholin, Phospholipid có nhiều trong lòng đỏ trứng, thịt nội tạng, bơ đậu phộng, nước nho, bông cải…

Đường là năng lượng chính không thể thiếu của não vì thế chất bột đường không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày. Nhưng chỉ nên ăn các loại thực phẩm cung cấp chất bột đường hấp thu chậm như cơm, bánh mì, khoai củ, trái cây… Không nên hay hạn chế chất bột đuờng có trong nước ngọt, bánh kẹo, thức uống có đường…

Đối với vitamin và khoáng chất, quan trọng là các vitamin thuộc nhóm B như B1, B5, B6, B9, B12, có nhiều trong ngũ cốc, rau các loại, bông cải, cam, bưởi, lòng đỏ trứng, thịt, cá, trứng, sữa…Ngoài ra, các khoáng chất kẽm, sắt, I-ốt lần lượt có trong hàu, sò…hay gan thịt cá, rau dền… hoặc có trong tảo, các loại hải sản… cũng là những khoáng chất thiết yếu giúp trẻ có được sự đầy đủ dưỡng chất trong dinh dưỡng tăng khả năng phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em.

Ngọc Thanh
(Dantri.com.vn)

 

Trẻ sinh non cần một giải pháp dinh dưỡng chuyên biệt

Theo thống kê, cứ mỗi năm trên thế giới lại có tới 22 triệu trẻ sinh ra đời ở tình trạng nhẹ cân (có trọng lượng dưới 2.500 gram). Trong đó, 2/3 số trẻ này là trẻ sinh non (ít hơn 37 tuần tuổi). Riêng tại Việt Nam, cứ 1,2 triệu trẻ ra đời thì có tới hơn 100 ngàn trẻ bị sinh non .

Tại sao trẻ sinh non?

Tỉ lệ trẻ sinh non ngày càng tăng trong hai thập niên qua, bà Jacqueline Jone Wessel (chuyên gia dinh dưỡng sơ sinh) đến từ Bệnh viện Nhi Khoa Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ cho biết tại hội thảo “Dinh dưỡng chuyên biệt cải thiện sức khỏe trẻ sinh non và nhẹ cân” vừa diễn ra tại TP.HCM do Hội Nhi khoa Việt Nam tổ chức.

Tình trạng sinh non có thể do người mẹ bị tiền căn sinh non, tiền căn nạo thai, sảy thai, tử cung dị dạng hoặc tử cung kém phát triển hoặc do thai bị vỡ ối non, đa ối, viêm màng ối do nhiễm trùng… Ngoài ra, các yếu tố khác như: bà mẹ làm việc quá sức, sống trong môi trường độc hại, dinh dưỡng kém: mẹ có cân nặng trước sinh 40kg; mẹ quá trẻ (dưới 20 tuổi), hoặc lớn tuổi (trên 40 tuổi); mẹ hút thuốc lá, thường xuyên bị căng thẳng… cũng là những nguyên nhân quan trọng gây sinh non.

 

Trẻ sinh non không được hưởng những chất dinh dưỡng trong ba tháng cuối của thai kỳ (giai đoạn giúp trẻ tăng trưởng cân nặng nhanh nhất) nên sẽ gặp khó khăn trong việc ăn uống. Chế độ dinh dưỡng sơ sinh kém sẽ dẫn tới sự tăng cân và phát triển chậm. Đây là những yếu tố cũng như nguyên nhân dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Trẻ sinh non có thể phát triển chậm so với trẻ khác đến ba năm và cũng thường có vấn đề trong việc học và ứng xử khi trẻ đến trường.

 

Cần một giải pháp dinh dưỡng chuyên biệt

Dựa vào tuổi thai, cân nặng lúc mới sinh, điều kiện chăm sóc y tế, trẻ sơ sinh cần nhu cầu dinh dưỡng khác nhau tại những thời điểm khác nhau (từ lúc sinh cho tới khi xuất viện). Chẳng hạn, trẻ sinh non có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng, phát triển chậm hơn trẻ sinh thường ở cùng độ tuổi, thiếu hụt chất đạm và năng lượng, chức năng chống oxy hóa giảm, thiếu chất sắt, thiếu hụt kẽm. Thế nhưng, khi xuất viện, trẻ sinh non thường được chăm sóc bằng sữa bột dành cho trẻ sinh thường. Tuy nhiên, những loại sữa này không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ sinh non để phát triển nhanh và bắt kịp trẻ sinh thường. Sữa bột cũng không thích hợp với hệ tiêu hóa còn yếu của trẻ sinh non.

Vì vậy, sữa mẹ là dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ sinh đủ tháng và rất thích hợp cho một số trẻ sinh non bởi thành phần dưỡng chất rất dễ tiêu hóa, chứa nhiều yếu tố miễn dịch giúp trẻ chống chọi với các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, hàm lượng các chất thiết yếu như: đạm, chất béo, các vitamin và muối khoáng trong sữa mẹ không đủ để đáp ứng nhu cầu cho tốc độ phát triển “bắt kịp” của trẻ sinh non.

Các tổ chức y tế thế giới đưa ra khuyến cáo sữa mẹ và đặc biệt sữa mẹ được làm giàu dưỡng chất (Forti- fied Human Milk) là lựa chọn tốt nhất cho trẻ sinh non. Nếu không có sữa mẹ, các bà mẹ nên dùng sữa dành cho trẻ non tháng. Công thức dinh dưỡng mới cho trẻ sinh non và nhẹ cân của Abbott đã được sử dụng rộng rãi trên 30 năm và được hỗ trợ bởi các chứng cứ lâm sàng từ hơn 50 thành tựu nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mà còn vào khả năng hấp thụ những chất dinh dưỡng trong công thức sữa của trẻ – TS. Pamela Price thuộc Trung tâm Nghiên cứu khoa học Dinh dưỡng Nhi khoa, Viện Dinh dưỡng Abbott, Hoa Kỳ, cho biết thêm.

Khi trẻ sinh non hay nhẹ cân xuất viện, nếu được chăm sóc đúng cách, tức là trẻ nhận được chế độ chăm sóc với những dưỡng chất đặc biệt, công thức dinh dưỡng hợp lý và đầy đủ trong năm đầu đời, trẻ sẽ giảm thiểu được nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng và sẽ bắt kịp với đà tăng trưởng của các trẻ sinh thường khác.

HUY THÁI
Suckhoevadoisong

 

 

Những điều cần biết về tiêu chảy cấp ở trẻ em

Ngoài lý do trẻ mắc tiêu chảy do ăn phải thức ăn có chứa vi khuẩn hay do độc tố của vi khuẩn, trẻ còn có thể mắc tiêu chảy do virut như Rotavirus… Trẻ bị bệnh do tiếp xúc trực tiếp với nguồn chứa tác nhân gây bệnh theo đường phân – miệng hoặc bàn tay – miệng. Mùa hè chính là thời gian trẻ hay bị mắc bệnh so với các thời điểm khác trong năm.

Đặc điểm nhận biết:
- Nôn và tiêu chảy là các đặc điểm nổi bật của tiêu chảy cấp do Rotavirus.
- Nôn thường xuất hiện trước tiêu chảy 6 – 12 giờ và có thể kéo dài khoảng 2 – 3 ngày.
- Trẻ nôn rất nhiều vào ngày đầu và giảm bớt khi bắt đầu đi tiêu chảy.
- Phân lỏng toàn nước, có lúc hoa cà hoa cải, có thể có nhầy mũi nhưng không có máu.
- Tiêu chảy ngày càng tăng trong vài ngày, sau đó giảm dần.
- Đa số các trẻ sẽ hết tiêu chảy sau 4 – 8 ngày.
- Tuy nhiên có thể có trẻ vẫn còn tiêu chảy đến 2 tuần dù đã khỏe, chơi, đòi ăn trở lại.
- Trẻ có sốt vừa phải, đau bụng, có thể có ho và chảy mũi.
- Vì vừa bị ói và tiêu chảy nhiều, trẻ bị nhiễm Rotavirus rất dễ bị mất nước nếu không được chăm sóc thích hợp.
- Biến chứng nguy hiểm và trầm trọng của bệnh là khô kiệt do mất nước và mất muối, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời.
- Các biểu hiện của mất nước bao gồm: khát nước, môi khô, lưỡi khô, da khô, đi tiểu ít, quấy khóc, kích thích. Khi thấy trẻ có các biểu hiện trên lập tức phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay.

Xử trí tiêu chảy cấp do Rotavirus:
Tiêu chảy cấp Rotavirus do virut gây ra, vì vậy kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh. Ở thể nhẹ, không có biến chứng, bệnh thường tự khỏi sau 3 – 8 ngày. Việc điều trị bệnh chủ yếu là đề phòng biến chứng mất nước, bù nước và muối khi trẻ bị mất nước.

Lưu ý những điểm sau đây:
– Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường. Có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước dừa tươi hoặc các chế phẩm bù nước và điện giải bằng đường uống như oresol (ORS), hydrite, lưu ý dung dịch ORS có độ thẩm thấu thấp.
- Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp theo lứa tuổi của trẻ. Nên chia nhỏ bữa ăn làm nhiều lần, cho trẻ ăn bằng thìa vì trẻ dễ bị nôn. Nếu trẻ nôn, cho trẻ nghỉ một chút rồi cho ăn lại.
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, nếu trẻ bú bình thì cần vệ sinh bình, núm vú và dụng cụ pha sữa kỹ trước mỗi cữ bú, sữa được pha theo số lượng như trẻ vẫn bú lúc không bị tiêu chảy, không được pha loãng hơn, không nên đổi loại sữa khác. Tương tự như việc cho ăn, nên cho trẻ bú từng ít một, nhiều lần trong ngày.
- Theo dõi số lần đi ngoài, số lượng phân, màu phân, khả năng uống bù nước và ăn uống của trẻ.
- Theo dõi phát hiện các dấu hiệu mất nước để kịp thời đưa trẻ nhập viện.
- Tuyệt đối không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ vì các thuốc này làm giảm nhu động ruột, làm liệt ruột khiến phân không được thải ra ngoài chứ không có tác dụng kháng virut – nguyên nhân gây nên tiêu chảy. Do đó trẻ vẫn tiếp tục bị tiêu chảy, mà phân không được bài xuất ra ngoài, ứ đọng lại trong ruột gây trướng bụng, biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong…
- Tránh kiêng khem quá mức như không cho trẻ uống sữa, chỉ cho trẻ ăn cháo trắng với muối sẽ khiến trẻ dễ bị bệnh nặng hơn. Phòng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ: Rửa tay cho trẻ và người chăm sóc trẻ, rửa tay là cách tốt nhất để phòng bệnh. Khi trong gia đình có trẻ bị tiêu chảy, phân của trẻ bị tiêu chảy phải được thu gom xử lý tránh để tiếp xúc lây lan sang trẻ khác.

ThS. Nguyễn Thanh Lâm (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Sữa mẹ và sức khỏe của bé

Con người ta ngay từ khi sinh ra đã cần được nuôi dưỡng, đối với trẻ, dòng sữa mẹ đã giúp trẻ lớn lên ngay từ những ngày tháng đầu đời. Thị trường ngày nay có rất nhiều loại sữa thay thế nhưng không thể có loại nào hoàn hảo bằng sữa mẹ. Ta hãy nhìn vào bảng so sánh giữa sữa mẹ và sữa bò để thấy được những ưu việt đó. Sữa mẹ đã được xác nhận là một thức ăn hoàn hảo nhất trong 6 tháng đầu đời của trẻ và là một phần thức ăn trong chế độ ăn bổ sung khi trẻ sau 6 tháng bởi vì nó chứa hầu hết protein và chất béo phù hợp tiêu hóa của trẻ, chứa nhiều đường lactose cần cho trẻ nhỏ lại đủ các vitamin và khoáng chất, nước. Dù lượng sắt không nhiều nhưng dễ hấp thu nên trẻ bú mẹ trong 6 tháng đầu không bị thiếu máu.

Sữa mẹ bảo vệ trẻ chống lại nhiễm khuẩn: Sữa mẹ sạch, không có vi khuẩn lại chứa nhiều kháng thể chống lại nhiều loại vi khuẩn khác nhau, các tế bào bạch cầu diệt vi khuẩn. Có yếu tố bifidus giúp cho loại vi khuẩn Lactobicillus bifidus phát triển trong ruột trẻ, vi khuẩn này ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại gây tiêu chảy. Sữa mẹ chứa lactoferin vận chuyển sắt, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn có hại cần sắt. Vì thế một đứa trẻ được bú mẹ thì ít bị tiêu chảy, viêm đường hô hấp và viêm tai giữa hơn trẻ nuôi nhân tạo khi ốm vẫn tiếp tục bú mẹ thì phục hồi nhanh hơn. Ngay cả trong năm thứ 2, thứ 3, sữa mẹ vẫn giúp trẻ ngăn ngừa bệnh tật và phục hồi sức khỏe nhanh.

Những ưu thế khác của nuôi con bằng sữa mẹ:

- Tăng cường sự gắn bó, tình thương yêu giữa mẹ và con, giúp trẻ phát triển bình thường.

- Tăng cường sức khỏe cho mẹ:

+ Giúp ngừng chảy máu sau đẻ nhanh, co hồi tử cung nhanh.

+ Mẹ chóng phục hồi sức khỏe.

+ Bú mẹ thường xuyên giúp tránh thai.

- Thuận tiện:

+ Sữa mẹ luôn có sẵn, không phải chế biến.

+ Sữa mẹ không bao giờ bị chua, hỏng ở trong vú, thậm chí ngay cả khi người mẹ không cho con bú trong vài ngày.

+ Sữa mẹ không phải mua nên không tốn kém.

+ Sữa mẹ hoàn toàn dành cho con, không ai chia sẻ sữa mẹ cho người khác.

Như vậy ta biết sữa mẹ quan trọng biết nhường nào với trẻ, lời khuyên duy nhất là các bà mẹ hãy nuôi con bằng dòng sữa quý báu của mình, đừng vì những lời quảng cáo hoa mỹ của các loại sữa trên thị trường mà thay sữa mẹ bằng các loại sữa thay thế khác.

Sữa người Sữa bò
Nhiễm vi khuẩn
Những yếu tố chống nhiễm khuẩn
Không
Kháng thể
Bạch cầu
Yếu tố bifidus
Rất có thể
Không hoạt động
Không có
Chất đạm
Toàn phần
Axít amin:
Cystine
Taurine
1%
Đủ cho sự phát triển của não bộ
4% quá nhiều
Không đủ
Chất béo
Toàn phần
Sự bão hòa của axít béo
Axit linoleic (cần thiết)
Cholesterol
Men Lipase để tiêu hóa chất béo
4% (trung bình)
Đủ để không bão hòa
Đủ cho sự phát triển của não bộ
Đủ
4%
Quá nhiều
Không đủ
Không có
Chất đường
Lactose
7% đủ
3-4% không đủ
Muối (mEq/l)
Natri
Clo
Kali
6,5 số lượng vừa đủ
12,0 số lượng vừa đủ
14,0 số lượng vừa đủ
25  quá nhiều
29   quá nhiều
35   quá nhiều
Yếu tố khoáng (mg/l)
Canxi
Phosphate
Sắt
350 số lượng vừa đủ
150  số lượng vừa đủ
Số lượng ít, dễ hấp thu
Đủ nhu cầu trẻ dưới 6 tháng
1.400 quá nhiều
900  quá nhiều
Số lượng ít, kém hấp thu
Không đủ nhu cầu
Các loại  Vitamin
Nước
Đủ
Không cần thêm nước
Không đủ
Có thể không đủ, cần thêm nước

BS. Phạm Thị Thục
(Giảng viên quốc gia CT sữa mẹ)

Chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp bé phát triển chiều cao

Sau 6 tháng đầu đời được bú mẹ hoàn toàn, chế độ dinh dưỡng hợp lý từ khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung đến trước tuổi dậy thì là giai đoạn quan trọng cho việc tăng trưởng chiều cao.

Chế độ dinh dưỡng giúp bé phát triển chiều cao

Bên cạnh yếu tố di truyền, chiều cao của con người còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố dinh dưỡng (32%), rèn luyện thể lực (20%) và môi trường sống (chế độ ngủ, nghỉ, vui chơi…). Đặc biệt, trong cùng một gia đình, thế hệ sau có thể có chiều cao vượt hơn thế hệ trước nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt. Do đó, muốn trẻ tăng trưởng tốt, cha mẹ cần thường xuyên thúc đẩy chiều cao đúng cách theo từng giai đoạn phát triển với chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Khi bắt đầu ăn bổ sung, bé cần được cung cấp chế độ ăn đủ năng lượng, protein, các vitamin và khoáng chất thiết yếu. Trong đó, canxi (thành phần thiết yếu cấu tạo nên xương và răng) và vitamin D (chất giúp canxi hấp thu vào xương tốt hơn) là 2 chất nên được quan tâm hàng đầu.

Để cung cấp cho bé đầy đủ lượng canxi mỗi ngày, bên cạnh các thức ăn như cua biển, hoa atisô, tỏi tây, súp lơ xanh,quả kiwi, chuối… mẹ cần bổ sung cho bé những thực phẩm giàu canxi tự nhiên như sữa và phô mai. Hai ly sữa hoặc hai viên phô mai mỗi ngày cùng chế độ vận động hợp lý sẽ giúp bé bổ sung canxi, phát triển, tăng chiều cao. Đặc biệt, loại phô mai có bổ sung vitamin D sẽ là nguồn thực phẩm hỗ trợ sự phát triển chiều cao của bé.

Bảng tổng hợp hàm lượng canxi trong thực phẩm thường dùng:

Thực phẩm 

(100 g)

Hàm lượng canxi trong 100g thực phẩm 

(mg %)

Tôm đồng 1.120 mg
Cua đồng 5.040 mg
Cua đồng giã gạn lọc lấy nước 120 mg
Tép khô 2.000 mg
Ốc bươu 1.310 mg
Cá thu 50 mg
Gan lơn 7 mg
Lòng đỏ trứng vịt: 146 mg
Phô mai 760 mg
Sữa 120 mg

GS. TS Nguyễn Lân Dũng
Chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh Vật & công Nghệ sinh Học – ĐH Quốc Gia Hà Nội


 

 

Nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của trẻ em

Ăn nhiều chưa hẳn là đủ. Đó có lẽ là một nghịch lý trong các bữa ăn của trẻ hiện nay. Mặc dù mỗi ngày mẹ ép bé ăn rất nhiều nhưng không phải lúc nào cung cấp được đầy đủ những chất dinh dưỡng thiết yếu. Vậy mẹ phải làm sao?

Thế nào là chế độ dinh dưỡng cân đối và hợp lý dành cho trẻ?

Không chỉ đối với người lớn mà trẻ nhỏ cũng rất cần được cung cấp một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý với 4 nhóm thực phẩm chính: chất đường bột; béo; đạm; vitamin và khoáng chất. Nhóm chất bột đường (bột, cháo, cơm…) là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần hàng ngày của bé. Chất đạm (thịt, cá, đậu…) với chức năng chính là tạo hình như giúp cơ thể bé xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể, đặc biệt là sự phát triển tế bào não và cung cấp một phần nhỏ năng lượng (14-15%). Chất béo vừa cung cấp năng lượng, tăng khả năng ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Vitamin và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng với việc phát triển, tăng trưởng, điều hòa các chuyển hóa trong cơ thể của trẻ cũng như tăng cường sức đề kháng phòng chống bệnh tật. Việc thiếu hụt một trong các chất này sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng không tốt đến sự tăng trưởng và phát triển của bé cả về thể lực và trí tuệ.

Thực đơn dinh dưỡng dành cho bé mỗi ngày

Độ tuổi Tỷ lệ cung cấp năng lượng/nhu cầu năng lượng tổng số) (%)
Chất bột đường Chất đạm Chất béo Vitamin và khoáng chất
Canxi Phốt pho Vitamin A
1 – 3 ( tuổi) 45-53% 12-15% (35-44g) trong đó cần ≥60% chất đạm động vật 35-40% tối đa 50% 500m 

 

460mg 

 

400mcg
4 – 6 ( tuổi) 60-68% 12-15% (44-55g) trong đó cần ≥50% chất đạm động vật 20-25% tối đa 30% 600mg 

 

500mg 

 

450mcg
1 ly sữa (180ml/ ly) mỗi ngày cung cấp cho bé: 7g chất đạm; 7.9g chất béo; 8.4g chất bột đường; 216mgCalcium, 90mcg vitamin A và cho bé năng lượng là 133Kcal 

2 viên phô mai mỗi ngày (15g/ viên) cung cấp cho bé: : 7.7g chất đạm; 9.3g chất

Đa dạng thực đơn với những thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng

Theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, nhằm cung cấp đầy đủ những chất dinh dưỡng thiết yếu, mẹ cần đa dạng bữa ăn cho bé. Thực đơn không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà còn cần nhiều loại thực phẩm trong mỗi nhóm và bổ sung cho bé các thực phẩm giàu dinh dưỡng như sữa và phô mai bên cạnh các bữa ăn hàng ngày. Sữa và phô mai là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng chứa nhiều prôtêin (chất đạm) giá trị sinh học cao, lipid (chất béo), giàu canxi và vitamin A. Đây là các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, đóng vai trò rất quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Ở nước ta, sữa đã trở nên gần gũi và khá quen thuộc như một thực phẩm dành riêng cho trẻ em. Vì thế, nhiều mẹ lựa chọn sữa bổ sung vào thực đơn hàng ngày của bé. Còn phô mai, một thức ăn hoàn toàn được chế biến từ sữa, lại ít được sử dụng phổ biến nên một số mẹ chưa hiểu hết giá trị dinh dưỡng của loại thực phẩm này. Thực tế, phô mai với thành phần chủ yếu là ca-sê-in, loại prôtêin tốt nhất của sữa, nên cũng sở hữu các đặc tính ưu việt. Phô mai có vị thơm dịu của sữa và mềm mịn, dễ ăn có thể dùng chung với các thức ăn khác như bột, cháo, bánh mỳ, quả chín hoặc ăn riêng nên là một loại thức ăn khoái khẩu và bổ dưỡng cho các bé.

Ngoài ra, phô mai còn cung cấp một lượng canxi đáng kể. Với cùng trọng lượng như nhau thì hàm lượng canxi trong phô mai gấp 6 lần trong sữa; đồng thời tỷ lệ tự nhiên giữa canxi với phốt pho ở phô mai là 1.8 rất thích hợp cho hấp thu canxi và sự có mặt của vitamin D có tác dụng tốt cho hấp thu canxi vào xương. Phô mai còn tốt cho các trẻ không uống được sữa do bất dung nạp đường lactose. Đường lactose đã được lên men bởi vi sinh vật đặc biệt hoặc xử lý với enzim (trong nhũ thanh-lactoserum) trong quá trình làm phômai. Do đó, phô mai thường thân thiện hơn với hệ tiêu hóa của các em, đặc biệt là khi cho trẻ ăn dặm (ăn bổ sung).

Cũng theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, nếu cha mẹ cho bé ăn khoảng 30g phô mai mỗi ngày sẽ cung cấp các chất dinh dưỡng tương tự như uống 1 ly sữa (180ml– 200ml), giúp bổ sung năng lượng và dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển toàn diện cả về thể lực lẫn trí tuệ. Đồng thời, lượng canxi dồi dào về số lượng, cân đối với phốt pho cùng vitamin D có trong phô mai sẽ rất tốt cho sự phát triển, tăng chiều cao của bé. Ngoài ra có thể sử dụng một số sản phẩm thực phẩm chức năng có tác dụng kích thích ăn uống với các trẻ biếng ăn.

Trẻ mắc bệnh hô hấp hàng loạt vì thời tiết chuyển mùa

Nhà gần Viện nhi trung ương, đến từ buổi sáng, nhưng chị Lành phải chen chúc lấy số, xếp sổ rồi tất tả đưa cậu con 3 tuổi đi khám, làm xét nghiệm… và đợi tới chiều mới biết kết quả vì số trẻ đến viện quá đông.

Đường vào Viện nhi trung ương sáng 6/4 tắc nghẽn vì vô số taxi, xe máy đưa trẻ vào viện khám. Đến tận giờ nghỉ trưa, trước cửa các phòng khám hô hấp, tai mũi họng, cấp cứu hay nơi làm xét nghiệm máu… vẫn nườm nượp người ra kẻ vào.

Gần 12 giờ trưa, anh Bằng (Bắc Ninh), ngồi trước cửa phòng khám đa khoa và chuyên khoa hô hấp, cho biết, từ tờ mờ sớm nay, vợ chồng anh gọi xe đưa con xuống viện khám mà đã thấy rất đông người đến trước.

“Bé ho nhiều, sốt, quấy, ăn vào lại nôn. Sáng cố đi sớm cho vắng để được khám nhanh, trưa về luôn, thế mà vẫn không kịp vì đông quá. Chắc phải hết chiều nay mới xong”, anh Bằng kể.

Ông Cấn Phú Nhuận, Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện Nhi trung ương cho biết, gần một tuần nay, hôm nào các phòng khám cũng quá tải vì quá đông bệnh nhân. Đa số trẻ tới khám vì mắc các bệnh về viêm đường hô hấp, có các biểu hiện như sốt cao, phát ban, ho kéo dài, nôn…

Gần 12 giờ trưa nhưng vẫn rất đông phụ huynh xếp hàng mua phiếu khám bệnh cho con tại Viện nhi trung ương. Ảnh: Minh Thùy.
Theo bác sĩ, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do sự thay đổi thời tiết liên tục trong thời gian gần đây. “Kể cả nắng nóng kéo dài, hay trời rét đậm lâu cũng không hại bằng thời tiết kiểu này. Cuối tháng 4 rồi mà trời vẫn lạnh, rồi nhiệt độ thay đổi liên tục, có khi đầu tuần nóng, nồm, cuối tuần lại hanh khô, hay sáng nóng, chiều lạnh… khiến trẻ – vốn có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh – không kịp thích ứng, đổ bệnh là chuyện dễ hiểu”, ông giải thích.

Bác sĩ cho biết, cùng với sự thất thường của nhiệt độ giai đoạn chuyển mùa, môi trường sống nhiều khói bụi, ô nhiễm cũng là một trong những nhân tố khiến nhiều trẻ dễ bị viêm nhiễm hô hấp.

Còn theo ông Lê Thanh Hải, phó giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương, số bệnh nhân đến khám và phải nhập viện mấy ngày nay tăng đột biến. Từ đầu tuần đến nay, mỗi ngày có hơn 2.500 bệnh nhi đăng ký khám và 1.200 trẻ điều trị nội trú tại các khoa, đông nhất là khoa hô hấp, trong khi thường ngày số bệnh nhi khám chỉ xấp xỉ 2.000 và nằm viện là 1.000 em.

Không chỉ ở Bệnh viện Nhi Trung ương, tại các nơi khác, như khoa nhi ở Bệnh viện Bạch Mai, khoa hô hấp nhi ở Bệnh viện Xanh Pôn, cũng xảy ra tình trạng quá tải do trẻ mắc các bệnh hô hấp tăng vọt.

“Hầu như thời điểm chuyển mùa nào số cháu vào viện cũng đông hơn, riêng ngày hôm nay, số trẻ vào khám không ngớt, nhiều hơn hẳn mọi khi, dù chúng tôi còn chưa kịp thống kê là bao nhiêu”, một bác sĩ khoa hô hấp nhi, Bệnh viện Xanh Pôn cho biết.

Theo bác sĩ Lê Thanh Hải, để giảm nguy cơ trẻ nhiễm bệnh trong điều kiện thời tiết giao mùa hiện nay, các bậc phụ huynh nên tránh cho con đến nơi đông người, tới những nơi khói bụi, có gió lùa. Khi ra ngoài cần cho trẻ mặc phù hợp với nhiệt độ môi trường, che chắn bằng khẩu trang để tránh hít phải không khí ô nhiễm. Với trẻ nhỏ, cần tích cực cho bú mẹ để nâng cao sức đề kháng, trẻ lớn hơn cần được ăn uống đủ chất, hợp lý, kết hợp với việc tiêm phòng đầy đủ. Không gian sống của trẻ cũng phải được vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, tránh có khói thuốc lá.

“Khi trẻ có các dấu hiệu như sốt, ho, nôn, trớ hay diễn biến bệnh nặng nhanh, cần phải đưa con đi khám, không tự ý mua thuốc cho trẻ uống bởi không những không tác dụng mà còn có thể gây tai biến”, bác sĩ Hải lưu ý.

Minh Thùy
Vnexpress

Đừng để trẻ thiệt thòi vì thiếu vi chất!

Bất cứ người mẹ nào cũng muốn điều tốt nhất cho con của mình. Trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày, họ luôn dành cho con cái những món ăn ngon thơm ngon, bổ dưỡng nhất, chỉ với mong muốn con cái khỏe mạnh và phát triển toàn diện.
Tuy nhiên, có đôi lúc chế độ dinh dưỡng hiện tại chưa cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho trẻ. Có những chất chỉ cần “một chút” thôi, nhưng nếu thiếu thì sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng.

Chỉ cần “một chút”, nhưng thiếu thì…

Vi chất bao gồm các vitamin tan trong nước như vitamin nhóm B, C, các vitamin tan trong chất béo là vitamin A, D, E, K, và các chất khoáng như Sắt, Kẽm, Iốt, Đồng, Mangan, Magiê… Điểm đặc thù của vi chất là cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng lớn, xáo trộn quá trình phát triển bình thường của trẻ. Ngoài ra, những chất này có một điểm đáng lưu ý nữa là cơ thể không tự tổng hợp được mà chỉ có thể bổ sung thông qua chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có khoảng 3 triệu trẻ em bị khô mắt và có tới 251 triệu trẻ bị thiếu vitamin A. Một nghiên cứu mới nhất do Viện Dinh dưỡng Việt Nam thực hiện trên diện rộng ở trẻ em từ 2-5 tuổi khắp 63 tỉnh thành cả nước cho thấy: Tỷ lệ trẻ thiếu vitamin A lên đến 14%. Lượng vitamin A trong khẩu phần ăn chỉ đáp ứng được 65% nhu cầu của trẻ. Thậm chí ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên, con số này giảm xuống chỉ còn 34 và 36%.

Bác sỹ Đào Thị Yến Thủy, Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM cho biết: “Thiếu vitamin A làm ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nhất là khi nhìn trong điều kiện ánh sáng nhẹ (quáng gà), dễ đưa đến khô mắt và mù mắt nếu tình trạng thiếu kéo dài. Không những thế, đáng lo ngại hơn, thiếu vitamin A còn gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cơ thể trẻ, làm giảm sức đề kháng, khô da và dễ mắc bệnh nhiều hơn”.

Tương tự vitamin A, Canxi, Kẽm, Magiê… cũng là những vi chất trẻ rất dễ thiếu hụt. Đơn cử như theo kết quả nghiên cứu nói trên của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, tỷ lệ trẻ thiếu Kẽm từ 15% đến 30%, thiếu Magiê lên đến 59,5%. Khảo sát thông qua khẩu phần ăn của trẻ cũng cho thấy: Lượng Canxi trong khẩu phần ăn của trẻ vùng núi phía Bắc chỉ đạt 49%. Con số này ở Tây Nguyên là 76% và ở vùng ven biển bắc miền Trung là 88%.

Ảnh hưởng dễ thấy của việc thiếu những vi chất này là trẻ chậm lớn, thấp còi, vóc dáng nhỏ bé. Ở mức độ nặng, ví dụ như thiếu Canxi, trẻ sẽ xuất hiện những biến dạng ở xương như bị lép ngực, chân vòng kiềng…

Cốm bổ trẻ em Catakid

Cách bảo vệ mũi cho trẻ

Theo các bác sỹ, việc rửa mũi hàng ngày cho bé là rất cần thiết. Mũi bé sạch sẽ giúp phòng ngừa các bệnh đường hô hấp và hạn chế mắc bệnh viêm xoang khi đến tuổi trưởng thành.

Tuy nhiên không phải bà mẹ nào cũng biết cách rửa mũi đúng cách cho bé. Dưới đây là lời khuyên của các chuyên gia.

Các bậc phụ huynh nên rửa mũi cho bé tốt nhất là trước bữa ăn và trước khi đi ngủ. Trong giấc ngủ dài ban đêm, nếu mũi bé có nhiều bụi bẩn, nước mũi,… sẽ là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.

Việc rửa mũi cho bé cũng rất đơn giản. Chỉ cần dùng một chiếc bông vệ sinh tai để vệ sinh mũi cho bé. Tuy nhiên các ông bố bà mẹ đừng quên tẩm một chút nước muối sinh lý để rửa mũi cho bé. Nước muối vừa làm sạch vi khuẩn và tạo độ ẩm cho mũi, tránh cho bé bị đau khi được vệ sinh mũi.

Ngoài ra, các bậc phụ huynh có thể dùng lọ xịt nước muối biển để vệ sinh mũi cho bé. Để lọ xịt gần mũi bé, ấn mạnh, nước muối sẽ vào sâu bên trong mũi bé. Những bụi bẩn sẽ theo nước muối này chảy ra ngoài. Dùng giấy ăn mềm hoặc giấy ướt lau cho bé sau đó vứt đi.

Các bậc cha mẹ cũng cần lưu ý vệ sinh tay trước và sau khi vệ sinh mũi cho bé bằng giấy ướt hoặc xà phòng. Lựa chọn chế độ dinh dưỡng phù hợp với sức khỏe bé.

Ngoài ra, để bảo vệ mũi bé, bạn nên giữ phòng của trẻ em luôn được ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè.

Dung Nhi
Theo fr

Trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn gì?

Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn hoàn thiện chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ:

 

 

Trước 3 tháng tuổi không nên ăn mặn

 

Trẻ dưới 3 tuổi không phải là không cần muối mà là đã hấp thụ được đầy đủ lượng muối từ sữa mẹ hoặc sữa bò.

 

Sau 3 tháng, cùng với sự lớn lên và phát triển, chức năng thận của trẻ dần dần được kiện toàn, lượng muối cũng theo đó mà dần dần tăng lên, lúc này có thể cho trẻ ăn một chút ít.

 

Nguyên tắc là sau 6 tháng, lượng muối cho trẻ ăn hàng ngày phải được khống chế ở dưới 1g.

 

Dưới 1 tuổi không nên ăn mật ong

 

Quần thể vi khuẩn bình thường trong đường ruột của trẻ em dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn toàn được thiết lập. Nếu cho trẻ ăn mật ong sẽ rất dễ gây ra viêm nhiễm. Trẻ sẽ xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, nôn ọe, đau bụng đi ngoài….

 

Dưới 3 tuổi không nên uống trà

 

Trẻ dưới 3 tuổi không nên uống trà. Chất tannin trong trà sẽ can thiệp vào sự hấp thụ của sắt, kẽm, canxi và khoáng chất, protein trong thức ăn trong cơ thể, làm cho trẻ thiếu protein và khoáng chất từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.

 

Dưới 5 tuổi không nên uống thuốc bổ

 

Dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng của trẻ, trong thuốc bổ hàm chứa nhiều hooc-môn hoặc chất giống như hooc-môn có thể làm cho hai đầu ống xương của trẻ

khép lại sớm, kết quả là trẻ bị lùn, trẻ lớn nhưng không phát triển chiều cao, đồng thời hooc-môn sẽ can thiệp vào hệ thống phát triển của trẻ làm cho trẻ phát triển và già trước tuổi.

 

Ngoài ra, khi còn nhỏ uống thuốc bổ còn có thể gây ra chảy máu lợi, khát nước, táo bón, huyết áp tăng cao, chướng bụng….

 

Dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối

 

Có hai nguyên nhân để trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối, đó là thực phẩm muối cá muối, thịt muối, rau dưa muối) chứa một lượng muối rất cao, những thực phẩm có lượng muối cao rất dễ gây ra bệnh cao huyết áp cho trẻ sau này.

 

Nguyên nhân thứ hai là trong những thực phẩm muối có chứa chất Nitrit, chất gây ra ung thư. Theo tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, những trẻ em dưới 10 tuổi bắt đầu ăn thực phẩm muối, sau khi trưởng thành thì khả năng bị ung thư cao gấp 3 lần so với những trẻ em thông thường khác, đặc biệt nguy cơ gây ra ung thư cổ họng là rất cao.

 

Dương Hằng

Theo healthoo

Source: Báo Dân Trí

Những biểu hiện không đáng lo lắng ở trẻ sơ sinh

Một số biểu hiện thở không đều, ngạt mũi nhẹ, sưng tuyến vú… ở trẻ sơ sinh thường khiến cha mẹ lo lắng. Thực chất vấn đề không nghiêm trọng đến vậy:
Thở không đều trong khi ngủ

Lồng ngực của trẻ sơ sinh thường nhỏ, do vậy, quá trình trao đổi khí thường ít hơn. Số lần hô hấp bình thường ở trẻ sơ sinh là 40-50 lần/phút. Ngoài ra, hệ thần kinh của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh, nên nhịp thở của trẻ cũng không đều, đặc biệt là trong khi ngủ.

Nôn trớ

Đối với trẻ mới sinh, đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Khi mới sinh, dạ dày bé thường nằm ngang, gần với thực quản. Do vậy, sau mỗi lần bú mẹ hoặc uống sữa, chỉ cần một vài cử động mạnh là bé có thể bị nôn trớ.
Để hạn chế hiện tượng này, bạn nên bế dựng bé ngay sau khi bú hoặc uống sữa từ 5-10 phút và vỗ nhẹ vào lưng trẻ để trẻ ợ hơi ra ngoài.

Hắt hơi, ngạt mũi nhẹ

Đây không phải là biểu hiện của bệnh cảm cúm. Ở trẻ sơ sinh, lớp niêm mạc mũi chưa phát triển hoàn thiện, do vậy không khí bên ngoài hoặc 1 vài cặn sữa có thể gây phản xạ hắt hơi hoặc nghẹt mũi nhẹ ở trẻ. Đây chính là biểu hiện sinh lý tự vệ của trẻ, chứ không phải do bị nhiễm lạnh hoặc cảm cúm.

Ra mồ hôi chân, tay

Nhiệt độ trong bụng mẹ rất lý tưởng và ổn định cho sự phát triển của trẻ. Ngay khi mới sinh, sự thay đổi nhiệt độ ngoài môi trường sẽ có tác động rất lớn đến quá trình hô hấp và bài tiết của cơ thể trẻ.
Khi nhiệt độ môi trường cao, trẻ sẽ điều hòa thân nhiệt bằng cách thoát mồ hôi. Do vậy, các mẹ nên chú ý lau khô người cho trẻ, giữ nhiệt độ trong phòng ổn định.

Nhiều tóc hoặc ít tóc

Số lượng và màu tóc của trẻ sơ sinh có liên quan chặt chẽ tới chế độ dinh dưỡng của mẹ trong quá trình mang thai cũng như các yếu tố di truyền của gia đình. Do vậy, nếu khi sinh ra, trẻ ít tóc hoặc màu tóc không đen thì bạn cũng chớ nên lo lắng.

Nếu thấy tóc trẻ quá ít, kèm theo đó là các hiện tượng như đổ mồ hôi nhiều, hay hoảng sợ khi ngủ, ngủ ít, bỏ ăn… thì bạn nên cho trẻ đi khám bác sỹ để có được lời khuyên hợp lý. Vì khi đó, rất có thể trẻ đang bị thiếu canxi, thiếu sắt hoặc thiếu máu.

Sưng tuyến vú

Bất luận là trai hay gái, trẻ sau 3-5 ngày sinh thường xuất hiện nốt nhỏ như hạt đậu, sờ vào thấy mềm và bóp nhẹ có thể ra sữa. Điều này là do ảnh hưởng từ nội tiết tố estrogen của mẹ. Hiện tượng này sẽ mất sau 2-3 tuần.

Bạn không nên lo lắng và vệ sinh cho trẻ bằng cách bóp mạnh vào tuyến vú của trẻ. Điều này có thể gây sưng hoặc nhiễm trùng, ảnh hưởng tới sự phát triển tuyến vú của trẻ trong tương lai.

Chảy máu âm đạo ở bé gái

Một số bé gái sau khi sinh 1 tuần, ở âm đạo có thể chảy một ít máu hoặc chất nhầy màu trắng do thai nhi vẫn chịu ảnh hưởng nội tiết tố của người mẹ và nội mạc tử cung đã bắt đầu phát triển.

Trong giai đoạn này, cần giữ vệ sinh âm đạo cho trẻ thật sạch để tránh nhiễm trùng.

 

 

Giải pháp cho chứng biếng ăn ở trẻ!

Trên thế giới, khoảng 50% trẻ từ 1-6 tuổi mắc chứng biếng ăn, còn ở Việt Nam, tỷ lệ này khoảng từ 20-45%. Trẻ biếng ăn là một trong những chủ đề nóng hổi trên các diễn đàn hiện nay và là điều khiến các bà mẹ trẻ lo lắng.

Nguyên nhân khiến trẻ biếng ăn?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biếng ăn ở trẻ như: trẻ bị ép ăn lượng thức ăn quá nhiều trong 1 ngày, do thói quen ăn uống không có giờ giấc nhất định hoặc trẻ ăn vặt quá nhiều trước bữa ăn chính… Thậm chí do đồ ăn quá nhiều dinh dưỡng hoặc không hợp khẩu vị cũng gây ra hiện tượng biếng ăn ở trẻ.

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trẻ biếng ăn là do trẻ mắc một số bệnh viêm nhiễm đường hô hấp như cảm cúm, viêm phế quản, ho… Các chứng bệnh này thường gặp ở trẻ nhỏ (từ 2 đến 8 tuổi).Đặc biệt, ở lứa tuổi này, trẻ hay bị ra mồ hôi trộm vào ban đêm, nhất là khi thời tiết thay đổi. Nếu cha mẹ không chú ý và lau khô ngay, trẻ sẽ bị nhiễm lạnh và mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, tình trạng biếng ăn lại xảy ra.

Làm gì để trẻ hết mồ hôi trộm?

Mồ hôi trộm là hiện tượng xảy ra khi trẻ ở trong trạng thái ngủ nghỉ, không vận động, không liên quan đến nhiệt độ môi trường nhưng mồ hôi vẫn túa ra liên tục ở đầu và lưng. Khi mồ hôi ra quá nhiều và liên tục làm mất một lượng nước và muối sẽ khiến cơ thể suy kiệt, chưa kể mồ hôi ngấm vào quần áo, rất dễ làm bé bị cảm lạnh, mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản. Và như thế trẻ dễ rơi vào vòng bệnh luẩn quẩn: Ra mồ hôi trộm -> nhiễm lạnh -> viêm nhiễm đường hô hấp -> biếng ăn -> cơ thể suy yếu -> trẻ dễ ra mồ hôi trộm.

Để giúp trẻ thoát được chứng biếng ăn, các bà mẹ cần cho trẻ ăn đúng giờ, ăn đúng khẩu phần. Cho trẻ ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng, ấm và nấu nhừ, không ăn đồ ăn sống, lạnh hay những món xào quá béo, đặc biệt không nên ép trẻ ăn quá no. Để đối phó với mồ hôi trộm, nên cho trẻ ăn các món có tác dụng bổ âm như cháo trai, canh cá quả, canh rau ngót, chè đậu xanh, đậu đen… Bên cạnh đó, cần cho trẻ dùng thêm các thuốc bổ dưỡng có khả năng ngăn ngừa mồ hôi trộm và giúp bé hết biếng ăn.

Thông tin sản phẩm: Cốm bổ trẻ em, tăng chiều cao, kick thích ăn uống – CataKid

Cha mẹ nên làm gì khi phát hiện độc tố trong thức phẩm của trẻ

Thông tin phát hiện thạch tín, chì và cadmium trong thực phầm dành cho trẻ khiến không ít cha mẹ lo lắng và thắc mắc. Dưới đây là giải đáp của các chuyên gia y tế đăng tải trênTelegraph online:

Những chất này nhiễm vào thực phẩm như thế nào?

Thạch tín, cadmium và chì được tìm thấy trong đất với nồng độ thấp. Ở một số nơi nó là tự nhiên nhưng 1 số nơi khác là do con người. Các loại thực vật có thể hấp thụ những chất này trong quá trình phát triển và gạo đặc biệt dễ bị nhiễm thạch tín và tích lũy ở mức cao

Các nguy cơ gặp phải?

Những vùng tập trung nhiều thạch tín sẽ có độc tính cao nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy ngay cả ở mức độ thấp nó cũng có thể gây ung thư và tổn thương não.

Ngoài ra, còn có những bằng chứng cho thấy nó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trẻ sơ sinh. Cadmium là độc chất đối với thận. Khi tích tụ trong cơ thể, nó còn làm xương giòn, dễ gãy và có những nghiên cứu cho thấy nó làm tăng nguy cơ ung thư phổi, bàng quang và ngực. Các nhà chức trách trong lĩnh vực y tế cũng tỏ ra lo ngại rằng các chất này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não, dù ở mức thấp, ở trẻ nhỏ.

Những vùng bị ảnh hưởng?

Ủy ban châu Âu, áp dụng khuyến nghị của Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu (EFSA), đã thiết lập các quy định về giới hạn an toàn đối với nhiều kim loại độc hại và chất gây ô nhiễm trong thực phẩm.

Đối với thạch tín, mức tiếp xúc an toàn hằng ngày là 2 microgam/kg cân nặng.

Tuy nhiên, EFSA gần đây đã đưa ra một đánh giá rủi ro mới nhằm khuyến nghị mức giới hạn này phải thấp hơn nữa. Đánh giá này cũng cảnh báo rằng những trẻ dưới 3 tuổi tiếp xúc với hàm lượng thạch tín vô cơ sẽ có nguy cơ bị ngộ độc nhiều gấp 3 lần so với người lớn do thể trọng của trẻ ít hơn rất nhiều so với người lớn

Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã tạm dừng khuyến nghị về lượng thạch tín trong thực phẩm vì ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng dù chỉ 1 lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư.

Cơ quan Tiêu chuẩn thực phẩm Anh cũng đang làm việc với Ủy ban châu Âu thiết lập giới hạn an toàn mới về những rủi ro do tiếp xúc lâu dài. Ví như việc tiếp xúc với cadmium tối đa là 2,5 microgram/kg trọng lượng cơ thể trong mỗi tuần.

EFSA gần đây cũng đã khẳng định rằng tiêu chuẩn hàng tuần về sự tiếp xúc với chì là 25 microgram/kg trọng lượng cơ thể đã không còn phù hợp.

Nếu cha mẹ lo lắng?

Các mức độ của những chất gây ô nhiễm tìm thấy trong các loại thực phẩm cho trẻ em đã được thử nghiệm là khá thấp và vẫn ở trong mức an toàn do Ủy ban châu Âu đặt ra hiện nay. Tuy nhiên, các nhà khoa học cảnh báo, nguy cơ đối với trẻ sơ sinh khó xác định chính xác vì thế tốt nhất là nên thận trọng. Họ đề nghị không cho trẻ ăn các loại thực phẩm gạo trên cho đến khi trẻ ngoài 6 tháng tuổi cho biết cho con bú trong giai đoạn này sẽ giúp bảo vệ trẻ khỏi tình trạng phơi nhiễm các chất độc sớm.

 

Nhân Hà
Theo Telegraph

 

Cách chọn sữa cho trẻ

Với những ai không thể hoặc không có điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, sữa công thức là giải pháp thay thế an toàn, bảo đảm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ. Tuy nhiên, việc lựa chọn được một loại sữa công thứuc bổ sung có những thành phần gần với sữa mẹ nhất không hề đơn giản đối với không ít các bậc cha mẹ.

 

Đó là chưa nói đến những bà mẹ có con sinh non, nhẹ cân hoặc mắc phải các bệnh nghiêm trọng về tiêu hóa hay bị rối loạn chuyển hóa bẩm sinh… rất cần một chế độ dinh dưỡng đặc biệt theo hướng dẫn của bác sĩ để giúp trẻ bắt kịp đà phát triển bình thường. Do đó, một khi chọn sữa công thức cho con, các bà mẹ cần phải hết sức lưu ý đến một số tiêu chuẩn sẽ được nhắc đến dưới đây.

Thế nào là sữa có chất lượng?

Trẻ chỉ có sự phát triển toàn diện khi được phát triển cùng lúc cả thể chất, trí não và hệ miễn dịch.

Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng những phát hiện mới trong dinh dưỡng phải được quan tâm thích đáng và được ưu tiên đối với các sản phẩm sữa công thức. Ví dụ như bổ sung các chất DHA, ARA, choline, betaglucan… những dưỡng chất mới cần thiết cho nhu cầu nhu dinh dưỡng của trẻ, hỗ trợ phát triển trí não và hệ miễn dịch, giúp trẻ khỏe mạnh, từ đó tăng khả năng học hỏi. Những sản phẩm này phải được phát triển và sản xuất dựa trên những bằng chứng khoa học cụ thể, phải phù hợp với các tiêu chuẩn của các tổ chức y tế, dinh dưỡng nhi khoa uy tín như: WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), EFSA (Ủy ban An toàn Thực phẩm châu Âu) và phải được công nhận về lợi ích của nó đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

Sữa công thức cho trẻ phải chứa những thành phần dinh dưỡng cần thiết phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ như: đạm, đường, acid béo… và đầy đủ những dưỡng chất có lợi như: DHA, ARA, cholin. Những nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng, việc bổ sung DHA và ARA cho trẻ trong những năm đầu đời sẽ có tác động tích cực trong việc phát triển trí não và thị lực cho trẻ. Theo khuyến cáo mới nhất của Cục Vệ sinh An toàn thực phẩm châu Âu năm 2009, hàm lượng DHA trong sữa công thức phải ở mức 0,3% trong tổng số các chất béo, nhằm bảo đảm giúp trẻ phát triển tốt về thị lực và hệ miễn dịch.

Đối với một sản phẩm sữa công thức, việc đầu tư, phát triển và ứng dụng những dưỡng chất có lợi là hết sức quan trọng trong việc cải tiến sản phẩm nhằm mang lại những lợi ích có ý nghĩa nhất cho người tiêu dùng. Do đó, người tiêu dùng nên sử dụng các sản phẩm được phát triển và sản xuất dựa trên các bằng chứng khoa học cụ thể, phù hợp với những tiêu chuẩn dinh dưỡng của trẻ. Bên cạnh đó, phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về các tiêu chuẩn quản lý chất lượng, sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm… Để làm được điều này, một sản phẩm thường phải trải qua rất nhiều khâu kiểm tra về vi sinh, thành phần, hàm lượng…

Một số lưu ý khi chọn sữa cho con

Sự đa dạng sản phẩm sữa trên thị trường hiện nay giúp các bậc cha mẹ dễ dàng tìm kiếm cho con mình một sản phẩm phù hợp. Tuy nhiên, điều quan trọng là làm thế nào để phân biệt và chọn lựa đúng sản phẩm mà con mình đang cần.

Để tránh nhầm lẫn, và có thể an tâm với sản phẩm mình đã chọn cho con, các bậc cha mẹ cần lưu ý:

- Kiểm tra nhãn hiệu, bao bì sản phẩm: kiểm tra kỹ hàm lượng các thành phần bên trong như: chất đạm, chất béo, DHA, ARA, vitamin… để đảm bảo rằng bé không chỉ phát triển tốt chiều cao cân nặng, mà còn có thể phát triển trí não, củng cố hệ miễn dịch non nớt – những yếu tố quyết định trong việc mang lại cho trẻ một sự khởi đầu tốt đẹp nhất.

- Sản phẩm có chất lượng, uy tín, được sản xuất dựa trên các bằng chứng khoa học cụ thể. Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng, một chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển toàn diện và lâu dài của trẻ, thông qua việc phát triển trí não, thị lực và chức năng phòng thủ tự nhiên (hệ miễn dịch). Đồng thời, được các tổ chức dinh dưỡng và an toàn thực phẩm công nhận về: an toàn thực phẩm, quản lý chất lượng, chỉ tiêu hàm lượng DHA, ARA…

Cha mẹ nên dành thời gian để tìm hiểu và tham vấn từ các BS dinh dưỡng để có những thông tin cần thiết về nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Đặc biệt là những người mẹ có con sinh non, nhẹ cân hoặc có vấn đề về đường tiêu hóa, rất cần một công thức dinh dưỡng đặc biệt, chọn đúng sản phẩm cần thiết giúp trẻ bắt kịp đà tăng trưởng và phát triển tốt.

BS.CKII. NGUYỄN THỊ THU HẬU

 

Bảng chiều cao và cân nặng theo chuẩn mới của trẻ dưới 5 tuổi

Các bà mẹ có thể yên tâm nếu con gái mình chỉ nặng 8,9 kg khi tròn năm. Còn nếu là bé trai, cân nặng 9,6 kg đã được coi là lý tưởng, theo chuẩn tăng trưởng mới của Tổ chức Y tế Thế giới. So với trước đây, yêu cầu về cân nặng của các bé nhìn chung thấp hơn một chút. Chẳng hạn: trước đây, thể trọng lý tưởng khi tròn năm phải là 10,2 kg với bé trai và 9,5 kg với bé gái. Tuy nhiên, khi bước vào độ tuổi lên 2, chiều cao theo chuẩn mới lại cao hơn chuẩn cũ khoảng 2cm.

 

Như vậy, khi áp dụng bảng này vào Việt Nam từ năm 2008, nước ta sẽ có nhiều trẻ thuộc diện thấp còi hơn, nhưng nhiều bậc phụ huynh sẽ yên tâm hơn về cân nặng của con mình.

Chuẩn tăng trưởng mới được coi là chính xác hơn rất nhiều bởi nó dựa vào cuộc khảo sát trên trẻ em ở nhiều quốc gia ở đủ các châu lục; những em bé này đều được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và được nuôi dưỡng đúng cách trong 5 năm sau đó. Còn tiêu chuẩn cũ chỉ dựa vào khảo sát trẻ em Mỹ và nhiều trẻ trong số đó được nuôi bằng sữa ngoài (thường tăng cân nhiều hơn khiến những trẻ bú sữa mẹ phát triển bình thường có thể bị coi là thiếu cân).

Bảng chuẩn tăng trưởng của trẻ em trên toàn thế giới (áp dụng cho cả trẻ em Việt Nam), theo chuẩn tăng trưởng mới của WHO

Trẻ trai:

Tuổi Trung bình Suy dinh dưỡng Thừa cân
0 3,3 kg- 49,9 cm 2,4 kg – 46,1 cm 4,4 kg
1 tháng 4,5 kg – 54,7 cm 3,4 kg – 50,8 cm 5,8 kg
3 tháng 6,4 kg – 58,4 cm 5 kg -57,3 cm 8 kg
6 tháng 7,9 kg – 67,6 cm 6,4 kg – 63,3 cm 9,8 kg
12 tháng 9,6 kg – 75,7 cm 7,7 kg -71,0 cm 12 kg
18 tháng 10,9 kg – 82,3 cm 8,8 kg -76,9 cm 13,7 kg
2 tuổi 12,2 kg – 87,8 cm 9,7 kg – 81,7 cm 15,3 kg
3 tuổi 14,3 kg – 96,1 cm 11,3 kg – 88,7 cm 18,3 kg
4 tuổi 16,3 kg – 103,3 cm 12,7 kg – 94,9 cm 21,2 kg
5 tuổi 18,3 kg – 110 cm 14,1 kg -100,7 cm 24,2 kg

Trẻ gái:

Tuổi Bình thường Suy dinh dưỡng Thừa cân
0 3,2 kg – 49,1 cm 2,4 kg – 45,4 cm 4,2 kg
1 tháng 4,2 kg – 53,7 cm 3, 2 kg – 49,8 cm 5,5 kg
3 tháng 5,8 kg – 57,1 cm 4, 5 kg – 55,6 cm 7,5 kg
6 tháng 7,3 kg – 65,7 cm 5,7 kg – 61,2 cm 9,3 kg
12 tháng 8,9 kg – 74 cm 7 kg – 68,9 cm 11,5 kg
18 tháng 10,2 kg – 80,7 cm 8,1 kg – 74,9 cm 13,2 kg
2 tuổi 11,5 kg – 86,4 cm 9 kg – 80 cm 14,8 kg
3 tuổi 13,9 kg – 95,1 cm 10,8 kg – 87,4 cm 18,1 kg
4 tuổi 16,1 kg – 102,7 cm 12,3 kg – 94,1 cm 21,5 kg
5 tuổi 18,2 kg – 109,4 cm 13,7 kg – 99,9 cm 24,9 kg

 

Thông tin trên được Hội Nhi khoa VN công bố tại buổi họp báo về khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em VN và chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới ngày 13-11, tại Hà Nội.

Theo Khảo sát mới nhất của Hội Nhi khoa VN, hiện nay đã có một bộ phận trẻ em Việt Nam đạt được mức chuẩn tăng trưởng này (tập chung chủ yếu ở các khu vực thành thị). Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ trẻ (chủ yếu ở khu vực nông thôn) vẫn còi cọc, suy dinh dưỡng do thiếu chất như: dầu, mỡ, vitamin các loại. Nếu những đứa trẻ không được sớm bổ sung dinh dưỡng sẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng thấp bé, nhẹ cân khi trưởng thành, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi chung.

Cùng đó, GS. NGuyễn Công Khanh, Phó chủ Chủ tịch Hội Nhi khoa VN lại cảnh báo về một bộ phận trẻ em thành phố lại ăn quá thừa dinh dưỡng do ăn nhiều thịt, chất béo. Hiện tình trạng béo phì ở trẻ em Hà Nội là 7,9% và TPHCM là 22,7%

 

Trẻ sinh non, nhẹ cân cần dinh dưỡng chuyên biệt

Hiện nay, hàng năm thế giới có tới 22 triệu trẻ sơ sinh ra đời với cân nặng dưới 2.500 gram. Trong đó 2/3 là trẻ do sinh non (dưới 37 tuần tuổi).

Ảnh chỉ mang tính minh họa.
(Nguồn: Internet)

 

Tỷ lệ này đang ngày càng tăng. Riêng tại Việt Nam cứ 1,2 triệu trẻ sinh ra thì có tới 100.000 trẻ bị sinh non.

Những con số trên đây đã được đưa ra cảnh báo tại hội thảo “Dinh dưỡng chuyên biệt cải thiện sức khỏe cho trẻ sinh non và nhẹ cân” do Hội Nhi khoa Việt Nam vừa tổ chức tại Hà Nội ngày 20/2/2011 và tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/2/2011.

Tại hội thảo, chuyên gia về trẻ sơ sinh, J. Jone Wesset đến từ Bệnh viện Nhi khoa Cincinnnati bang Ohio (Mỹ) cho biết nếu không được bổ xung chất dinh dưỡng ngay từ khi mới chào đời, trẻ sinh non phải mất thời gian lâu hơn trong bệnh viện, nguy cơ mắc các bệnh do sinh non cũng ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của trẻ. Chính vì thế trẻ sinh nhẹ cân hay sinh non có nhu cầu về dinh dưỡng cao hơn nhiều so với trẻ sinh đủ tháng.

Trẻ sinh non không được hưởng những chất dinh dưỡng trong ba tháng cuối thai kỳ – giai đoạn giúp trẻ tăng trưởng cân nặng nhanh nhất. Những em nhỏ này sẽ gặp khó khăn trong việc ăn uống do phản xạ nuốt chưa phát triển toàn diện. Ngoài ra, dạ dày và ruột của trẻ cũng như nhiều cơ quan trong cơ thể còn non nớt dẫn đến lượng thực phẩm trẻ có thể tiếp thu bị giới hạn.

Chế độ dinh dưỡng sơ sinh kém sẽ dẫn tới sự tăng cân và phát triển chậm. Đây là những yếu tố cũng như nguyên nhân dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh.

Cũng theo bà J. Jone Wesset, sữa của bà mẹ sinh non hay nhẹ cân cũng thiếu protein, canxi, các dưỡng chất khác. Tuy nhiên các bà mẹ này vẫn nên cho con bú sữa mẹ, đồng thời bổ xung thêm các loại sữa dành riêng cho trẻ sinh nhẹ cân và sinh non để bảo vệ sự độc đáo của sữa mẹ – đó là khả năng kháng khuẩn của sữa mẹ./.

Theo Vietnam+

Source: Báo Thể Thao Văn Hóa

Muốn con vững vàng, đừng nhờ xe tập đi

Nhiều phụ huynh vì nôn nóng nên bé mới 5 – 6 tháng đã tập cho bé đi. Lúc này, cột sống của bé chưa sẵn sàng, có thể bị dị tật.
Thông thường ở trẻ nhỏ, ba tháng tuổi đã có thể giữ được cổ cứng. Tháng thứ năm, thứ sáu có thể lật, trườn nhưng chưa bò được. Khi tám tháng tuổi, trẻ sẽ làm chủ hoàn toàn khả năng ngồi và dễ dàng chuyển sang các tư thế khác.
Trẻ có khuynh hướng ngồi trên miếng lót đỡ khung chậu và dùng các đầu ngón chân đẩy xe đi. Như vậy, trẻ không có cơ hội để hai bàn chân đứng chịu sức…

Xe tập đi không được khuyến khích dùng ở trẻ tập đi vì có thể làm cơ chân của trẻ không phát triển hoàn toàn. Trong xe tập đi, trẻ có khuynh hướng ngồi trên miếng lót đỡ khung chậu và dùng các đầu ngón chân đẩy xe đi. Như vậy, trẻ không có cơ hội để hai bàn chân đứng chịu sức, cơ hội cho hai đầu gối co duỗi kiểu bước đi cũng không xảy ra.

Các nhà chuyên môn khuyên các bậc cha mẹ có con nhỏ không nên ỷ lại vào xe tập đi. Nếu trẻ đòi, chỉ cho trẻ vào xe tập đi thời gian ngắn. Khi trẻ đã chập chững biết đi nên tạo cơ hội cho trẻ có những hoạt động bò, vịn đứng lên…

Theo quá trình phát triển sinh lý bình thường, phải đến mười tháng tuổi, bé mới có thể dần biết đứng lên và lẫm chẫm đi. Tuy nhiên, do các bé phát triển không giống nhau nên nhìn chung, bé trong khoảng 10 – 18 tháng tuổi bắt đầu tập đi là bình thường.

Phụ huynh nên chọn thời điểm thích hợp để tập bé đi. Nếu bé chưa muốn thì không nên cưỡng ép. Hãy để bé vận động theo đúng khả năng của mình. Khi bé mới bắt đầu tập đi, người lớn phải đỡ, dìu bé. Không nên lôi kéo mạnh vào tay và người bé vì dễ bị trật khớp, nhất là các khớp vai và cổ tay. Cần lót sàn nhà bằng các tấm lót xốp, mềm mại để tránh gây hại khi bé ngã.

Theo BS Trương Anh Mậu
Khoa ngoại BVNhi Đồng 2/SGTT

Không nên cho trẻ dưới 1 tuổi uống sữa bò

Nghèo sắt nhưng lại giàu đạm, sữa bò ức chế quá trình hấp thu các thực phẩm khác của cơ thể, lượng đạm quá mức cần thiết khiến những trẻ dưới 1 tuổi dùng nhiều loại sữa này có nguy cơ mắc bệnh béo phì.

Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau khi sinh có khả năng giúp trẻ tăng sức đề kháng miễn hoặc giảm được nhiều loại bệnh nguy hiểm như tiêu chảy, hen suyễn, tiểu đường, viêm tai giữa, viêm da dị ứng,…

 

Hãy cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Tuy nhiên, xã hội công nghiệp ngày nay đã “ngốn” hết thời gian của con người. Đa phần trẻ em sinh ra trong các gia đình công nhân viên chức, công nhân… đều phải sử dụng sữa ngoài để thay thế cho sữa mẹ từ khi mới được 3 đến 4 tháng tuổi. Do không đủ điều kiện cho con dùng sữa công thức nên nhiều bậc cha mẹ đã chọn giải pháp cho con uống sữa bò.

Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới trong chiến lược toàn cầu về chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mới được Giáo sư Berthold Koletzko (người Đức) công bố tại TPHCM cho thấy: “Sữa bò là loại thức uống nghèo sắt, nó ức chế cơ thể hấp thụ sắt từ các thực phẩm khác. Sữa bò giàu đạm có thể gây tăng trưởng quá mức nếu dùng lâu dài sẽ dẫn đến béo phì. Vì vậy không nên cho trẻ dưới 1 tuổi dùng loại sữa này.”

Bên cạnh đó, GS Berthold cũng khuyến cáo các bậc phụ huynh không nên cho trẻ dùng nước trái cây và nước có đường vì sẽ khiến trẻ ăn ít hơn dẫn đến giảm lượng chất dinh dưỡng cần thiết. Không bỏ muối vào thức ăn của trẻ, lượng muối ăn vào nhiều khi còn nhỏ có thể dẫn đến tăng huyết áp sau này.

Vân Sơn

Source: Báo Dân Trí

Vào mùa viêm não, cảnh giác khi trẻ sốt kéo dài, đau đầu

Thấy con gái 14 tuổi sốt cao, kêu đau đầu, chị Hoàn (38 tuổi, Nam Định) nghĩ con bị ốm thường. Nhưng đến ngày thứ 4 thấy con vẫn không đỡ sốt, đến nửa đêm lại lên cơn co giật, chị vội đưa đi cấp cứu thì mới biết con bị viêm não – màng não.

Trẻ được chuyển lên khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cấp cứu trong tình trạng sốt cao, rối loạn nhịp thở, có biểu hiện chậm chạp, lờ đờ.

Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, cho biết, con chị Hoàn bị viêm não – màng não do virus. Rất may là sau một tuần điều trị, trẻ đã giảm sốt, tinh thần khá lên và không để lại biến chứng gì nặng nề.

Cũng theo tiến sĩ Dũng, hiện là thời điểm bắt đầu vào mùa bệnh viêm não, màng não vì thế cha mẹ cần hết sức cảnh giác. Bệnh thường xảy ra đột ngột, có trẻ đang khỏe mạnh bỗng dưng sốt cao, co giật, dẫn đến lờ đờ, hôn mê trong 1-3 ngày. Diễn biến bệnh nặng lên rất nhanh.

Bác sĩ khám lại cho một trường hợp bị viêm màng não do virus. Ảnh: N.P.

“Điều đáng nói là một khi trẻ phải nhập viện thì thường tình trạng đã nặng, co giật, rối loạn ý thức, đau đầu, nghiêm trọng hơn thì rối loạn nhịp thở, nhịp tim, thân nhiệt. Nếu cứu được trẻ qua khỏi tuần đầu thì bệnh thường không để lại biến chứng gì”, tiến sĩ Dũng nói.

Bệnh viêm não hay gặp ở trẻ trên một tuổi, gặp nhiều nhất ở trẻ 3-15 tuổi. Biểu hiện lâm sàng ở trẻ bị viêm não rất đa dạng và thay đổi tùy theo lứa tuổi. Bệnh thường khởi phát với các triệu chứng sốt cao, nôn, đau đầu…, một số trẻ có thể bị tiêu chảy. Đặc biệt, k hi trẻ kêu đau đầu nhiều, cha mẹ cần nghĩ ngay đến bệnh viêm não, màng não và đưa con đi khám.

Tác nhân gây bệnh có thể do virus viêm não Nhật Bản, thường gặp ở trẻ chưa được tiêm phòng hoặc tiêm không đẩy đủ. Nhóm nguyên nhân thứ hai là các virus đường ruột, bệnh diễn biến bất thường, có trường hợp nhẹ, sau một tuần khỏi bệnh mà không để lại di chứng gì. Ngược lại có trẻ lại diễn biến nặng, tử vong rất nhanh. Nhóm virus này hiện chưa có vắcxin phòng.

Ngoài ra, trẻ bị viêm não, màng não có thể là biến chứng của các bệnh truyền nhiễm thường gặp như thủy đậu, quai bị… Hiện nay hay gặp nhất là các trẻ bị viêm não do virus đường ruột.

Bệnh diễn biến bất thường, không thể dự đoán trước khi nào trở nặng. Vì thế, nếu không may trẻ mắc bệnh, cha mẹ nên cho bé ở nhà nghỉ ngơi hoàn toàn, đồng thời theo dõi sát những biểu hiện của con. Nếu thấy trẻ bỏ ăn, bỏ chơi, không nói, người chậm chạp, lờ đờ… thì cần đưa ngay đến cơ sở y tế, tiến sĩ Dũng cho biết.

Tiến sĩ Dũng khuyến cáo, để phòng bệnh, cha mẹ cần đưa con đi tiêm vắcxin viêm não Nhật Bản đầy đủ. Với nhóm virus đường ruột thì cần chú ý đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến sạch, ăn chín và rửa tay trước khi ăn.

Ngoài ra, hiện là thời điểm chuyển mùa, nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch nhau lớn. Vì thế, cha mẹ cần cho trẻ mặc quần áo phù hợp, không để mặc quá nóng. Trẻ đang sốt mà mặc nóng thì sẽ càng sốt cao hơn.

Đồng thời, cũng không nên kiêng tắm cho bé. Lý do là vì trẻ bị sốt dễ ra mồ hôi, nhất là vào mùa hè nóng nên việc kiêng tắm chỉ khiến con ngứa ngáy, khó chịu, quấy khóc. Thậm chí, có bé không chịu được gãi nhiều gây chảy máu, dẫn đến nhiễm trùng, bệnh càng nặng hơn.

Nam Phương

Source: Báo VNExpress

Chỉ có 10% trẻ em Việt được bú sữa mẹ hoàn toàn

Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là cách cung cấp dinh dưỡng đầy đủ nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng đến nay vẫn chỉ có 10% trẻ em Việt Nam được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời.

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)

 

Theo một thống kê cho thấy, trong số 97% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ chỉ có 55% cho con bú sữa mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh.

Các nguyên nhân chính nhằm giải thích sự trì hoãn việc cho con bú sớm do quan niệm rằng sữa mẹ chưa “về” trong những giờ đầu sau khi sinh, do cơ sở y tế quả tải, có nhiều loại sữa bột trên thị trường cho trẻ…

Bên cạnh đó, các bà mẹ thường cho mình là không đủ sữa để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ bú đến khi 6 tháng tuổi, nên đã cho ăn sam hoặc ăn sữa ngoài.

Trong khi đó, đối với các bà mẹ có việc làm (chiếm tỷ lệ 20-30%), yêu cầu phải trở lại làm việc sau bốn tháng đầu sau khi sinh là một nguyên nhân khiến cho người mẹ không thể nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ.

Tiến sĩ Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, cán bộ y tế và các cơ sở y tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra bước khởi đầu cho một bà mẹ quyết định nuôi con bằng sữa mẹ.

Do vậy, các cán bộ y tế và cơ sở dịch vụ y tế cần được đào tạo và hướng dẫn giúp đỡ các bà mẹ cho con bú ngay trong một giờ đầu sau khi sinh cũng như hướng dẫn cách duy trì nguồn sữa mẹ để đáp ứng nhu cầu bú của trẻ trong 6 tháng đầu.

 

Theo Vietnam+

Làm sao giảm nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp ở trẻ?

Trẻ sinh ra được thừa hưởng những kháng thể có sẵn được truyền từ nhau thai và sữa mẹ. Tuy nhiên, các kháng thể cũng sẽ giảm dần theo thời gian, đặc biệt sau khi trẻ cai sữa mẹ và giai đoạn bắt đầu đến trường.

Đây cũng là giai đoạn các bậc cha mẹ luôn phải đau đầu với các bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ, đặc biệt là bệnh đường hô hấp.

Nỗi lo con bị bệnh đường hô hấp

 

Bé Ben, con chị Ngà, quận 5, HCM vừa mới lên 2. Hàng ngày, chị đi làm và để bé ở nhà cho bà nội và cô người làm săn sóc. Vốn là người kỹ tính, chị thường xuyên gọi điện về nhà để hỏi thăm tình hình bé, chị luôn lựa chọn những thức ăn tươi ngon, an toàn, vệ sinh nhất cho bé và không cho bé tiếp xúc với bên ngoài vì sợ vi trùng sẽ tấn công vào đường hô hấp của bé. Cho dù là rất kỹ như thế, cả 2 tuần nay bé Ben liên tục bị sốt và ho. Chị Ngà chia sẻ: “ Mấy nay cháu bị bệnh như thế, được các bác sĩ khuyên thì tôi rút ra kết luận rằng chăm sóc con kỹ chưa chắc con đã không mắc bệnh, mà phải chăm sóc đúng cách, để tăng cường sức đề kháng cho cháu nữa”

Không chỉ chị Ngà mà nhiều bà mẹ khác cũng đang lo lắng cho sức khỏe đường hô hấp của con mỗi khi ra ngoài dù đã dùng hết tuyệt chiêu để chăm con. Vòng qua các diễn đàn chavame, webtretho, đề tài về bệnh hô hấp đã và đang thu hút sự quan tâm của đông đảo các bậc cha mẹ. Người mẹ có nickname mechipngoan chia sẻ: “Bé Bông nhà mình đã được 3 tuổi, chiều cao, cân nặng đều đủ chuẩn. Dù đã hạn chế bé tiếp xúc với môi trường ô nhiễm nhưng không hiểu sao bé lại bé thường xuyên mắc bệnh, không sụt sịt thì cũng viêm họng và ho”

Theo các chuyên gia đầu ngành về nhi khoa tại Việt Nam, các chứng bệnh liên quan đến đường hô hấp ở trẻ em là bệnh khá phổ biến, có tỷ lệ mắc và tử vong cao. Trung bình trẻ em dưới 3 tuổi, một năm mắc khoảng từ 3 đến 10 lượt nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính, nếu không được khám và điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ dẫn đến tử vong. Việc tăng cường sức khỏe hô hấp cho trẻ là vấn đề mà các bậc cha mẹ nên chú ý.

Tăng cường sức khỏe hô hấp cho trẻ bằng cách nào?

Trao đổi với báo chí tại buổi hội thảo về Tăng cường sức khỏe hô hấp cho trẻ do Hội Nhi khoa VN và công ty Mead Johnson tổ chức, các nhà chuyên môn cho rằng, có nhiều cách để tăng cường sức khỏe hô hấp cho trẻ, và bổ sung dinh dưỡng đầy đủ được xem là giải pháp chính yếu. Nhiều nghiên cứu khoa học đã ghi nhận, dinh dưỡng có tác dụng rất tích cực lên hệ miễn dịch của trẻ, giảm thiểu nguy cơ mắc các nhóm bệnh nguy hiểm liên quan đến hô hấp.

Với những trẻ không được hoặc đã thôi bú mẹ, ngoài việc cung cấp cho trẻ đủ 4 nhóm (đạm, bột đường, béo, khoáng chất và vitamin), cần duy trì cho trẻ uống sữa vì sữa là nguồn thực phẩm lý tưởng, chứa nhiều dưỡng chất cần thiết cho hệ miễn dịch như DHA, ARA, Beta-Glucan 1,3/1,6 …

 

Châu Âu: cảnh báo kim loại độc hại trong thực phẩm dinh dưỡng

Các loại thực phẩm dinh dưỡng để thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ nhỏ có chứa một lượng “đáng báo động” những kim loại độc hại như chì, arsenic và cadmium, theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển.

Châu Âu: cảnh báo kim loại độc hại trong thực phẩm dinh dưỡng

Cho trẻ nhỏ bú mẹ đến 6 tháng tuổi là cách tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc với kim loại độc hại – Ảnh: Telegraph

Tờ Telegraph dẫn báo cáo của các nhà khoa học thuộc đơn vị nghiên cứu kim loại và sức khỏe thuộc Viện Karolinska (Thụy Điển), được đăng trên tạp chí Food Chemistry , có đoạn: “Các loại thực phẩm dinh dưỡng chứa một lượng lớn kim loại độc hại như arsenic, cadmium, chì và cả uranium, có nguồn gốc từ các nguyên liệu thô dùng để chế biến… Những kim loại này cần phải được giảm tới mức tối đa trong các loại thực phẩm cho trẻ nhỏ”.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên chín mẫu thực phẩm dinh dưỡng sử dụng cho em bé từ 4 tháng tuổi và chín loại sữa khác nhau từ những nhãn hiệu lớn như Organix, Hipp, Nestle và Holle.

Kết quả cho thấy các trẻ nhỏ được cho ăn các loại thực phẩm nói trên 2 lần/ ngày có mức độ tiếp xúc với arsenic cao gấp 50 lần so với các trẻ được nuôi bằng sữa mẹ, trong khi mức độ tiếp xúc với cadmium cao hơn 150 lần. Cadmium là kim loại có thể gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho hệ thần kinh và thận.

Mặc dù không có nồng độ kim loại nào vượt giới hạn an toàn hiện hành, báo cáo vẫn bày tỏ lo ngại về tác động đối với các trẻ nhỏ - đối tượng rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với các kim loại này.

Về phần mình, các công ty sản xuất thực phẩm cho trẻ em khẳng định vẫn tuân thủ các quy định về an toàn hiện hành. Bà Ljung cũng khuyến cáo cho trẻ nhỏ bú mẹ đến 6 tháng tuổi là cách tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc với các kim loại độc hại.

XUÂN TÙNG

Source: Báo Tuổi Trẻ

Trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn gì?

Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn hoàn thiện chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ:

 

 

Trước 3 tháng tuổi không nên ăn mặn

 

Trẻ dưới 3 tuổi không phải là không cần muối mà là đã hấp thụ được đầy đủ lượng muối từ sữa mẹ hoặc sữa bò.

 

Sau 3 tháng, cùng với sự lớn lên và phát triển, chức năng thận của trẻ dần dần được kiện toàn, lượng muối cũng theo đó mà dần dần tăng lên, lúc này có thể cho trẻ ăn một chút ít.

 

Nguyên tắc là sau 6 tháng, lượng muối cho trẻ ăn hàng ngày phải được khống chế ở dưới 1g.

 

Dưới 1 tuổi không nên ăn mật ong

 

Quần thể vi khuẩn bình thường trong đường ruột của trẻ em dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn toàn được thiết lập. Nếu cho trẻ ăn mật ong sẽ rất dễ gây ra viêm nhiễm. Trẻ sẽ xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, nôn ọe, đau bụng đi ngoài….

 

Dưới 3 tuổi không nên uống trà

 

Trẻ dưới 3 tuổi không nên uống trà. Chất tannin trong trà sẽ can thiệp vào sự hấp thụ của sắt, kẽm, canxi và khoáng chất, protein trong thức ăn trong cơ thể, làm cho trẻ thiếu protein và khoáng chất từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.

 

Dưới 5 tuổi không nên uống thuốc bổ

 

Dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng của trẻ, trong thuốc bổ hàm chứa nhiều hooc-môn hoặc chất giống như hooc-môn có thể làm cho hai đầu ống xương của trẻ

khép lại sớm, kết quả là trẻ bị lùn, trẻ lớn nhưng không phát triển chiều cao, đồng thời hooc-môn sẽ can thiệp vào hệ thống phát triển của trẻ làm cho trẻ phát triển và già trước tuổi.

 

Ngoài ra, khi còn nhỏ uống thuốc bổ còn có thể gây ra chảy máu lợi, khát nước, táo bón, huyết áp tăng cao, chướng bụng….

 

Dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối

 

Có hai nguyên nhân để trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối, đó là thực phẩm muối cá muối, thịt muối, rau dưa muối) chứa một lượng muối rất cao, những thực phẩm có lượng muối cao rất dễ gây ra bệnh cao huyết áp cho trẻ sau này.

 

Nguyên nhân thứ hai là trong những thực phẩm muối có chứa chất Nitrit, chất gây ra ung thư. Theo tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, những trẻ em dưới 10 tuổi bắt đầu ăn thực phẩm muối, sau khi trưởng thành thì khả năng bị ung thư cao gấp 3 lần so với những trẻ em thông thường khác, đặc biệt nguy cơ gây ra ung thư cổ họng là rất cao.

 

Dương Hằng

Theo healthoo

Source: Báo Dân Trí

Thiếu vitamin A, trẻ bị phát triển chậm về thể chất

Thiếu vitamin A không chỉ ảnh hưởng tới thị lực mà còn gây ra ra tình trạng kém hấp thu dưỡng chất, từ đó gây chậm phát triển thể chất… và vô số các hệ lụy không ngờ khác.


Vitamin A là một loại dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ nhỏ nhưng thực phẩm hằng ngày không đủ đáp ứng nhu cầu này
Vai trò của vitamin A
Việc bổ sung vitamin A sẽ đáp ứng nhu cầu của cơ thể để phục vụ cho các chức năng nhìn; phát triển, bảo vệ toàn vẹn biểu mô và sự phân bào, miễn dịch của trẻ nhỏ.
Cụ thể, về thị lực, nếu thiếu vitamin A sẽ gây ra quáng gà (không nhìn thấy rõ trong điều kiện ánh sáng yếu), thậm chí gây tổn thương giác mạc mắt, gây mù lòa vĩnh viễn.
Khi thiếu vitamin A, trẻ em bị chậm phát triển về thể chất nhiều hơn so với những trẻ em bình thường cùng lứa tuổi do thiếu viatmin A, các tế bào biểu mô sẽ bị sừng hóa, những nhung mao của ruột bị thưa và mất đi, khiến trẻ kém hấp thu dưỡng chất trong ruột; ngoài ra, trẻ cũng dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa.
Vitamin A còn có vai trò miễn dịch. Nếu thiếu vitamin A, trẻ em dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn và khi bị mắc bệnh sẽ có thời gian bệnh kéo dài nhiều hơn, nguy cơ tử vong cao hơn. Bổ sung vitamin A sẽ làm giảm khoảng 23% tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
Các dạng vitamin A bổ sung

Vitamin A được sản xuất dưới dạnh viên nang, phổ biến là 2 loại viên nang liều cao. Viên màu đỏ chứa 200.000 đợn vị, viên màu xanh chứa 100.000 đơn vị. Việc uống loại nào phụ thuộc vào độ tuổi.

Vitamin A thường sử dụng cho trẻ em từ 6 đến 60 tháng tuổi, được uống theo chiến dịch bổ sung vitamin A toàn quốc mỗi năm 2 lần.
Vitamin A cũng được sử dụng điều trị cho trẻ em dưới 5 tuổi mắc các bệnh như sởi, tiêu chảy kéo dài, viêm hô hấp cấp tính, suy dinh dưỡng nặng… Ngoài ra, bà mẹ sau khi sinh con trong vòng một tháng có thể sử dụng vitamin A để tăng cường lượng vitamin A trong sữa mẹ.
Lưu ý tác dụng phụ
Vitamin A cho trẻ em uống bổ sung an toàn và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên trong một số các trường hợp nếu dùng vitamin A liều quá cao cùng một lúc, có thể đến hàng triệu đơn vị quốc tế hoặc dùng kéo dài, thường xuất hiện dấu hiệu ngộ độc như:
- Ngộ độc cấp tính xảy ra vì uống quá liều quy định do nhầm lẫn thuốc. Trên thực tế, các trường hợp này rất hiếm gặp. Khi bị ngộ độc cấp tính, trẻ nhỏ có dấu hiệu thóp phồng, nôn mửa, tăng áp lực sọ não… Cần cho trẻ em uống vitamin C hoặc nước chanh đường và nên đưa ngay đến cơ sở y tế để xử trí kịp thời.
- Ngộ độc mạn tính xảy ra khi có các dấu hiệu như đau đầu, mệt mỏi, buồn nôn, rụng tóc, da khô, trẻ nhỏ chậm tăng cân, kém ăn, tăng sự chảy máu, đau xương…
Tuy nhiên, từ khi triển khai các hoạt động cho trẻ em uống vitamin A một năm 2 lần từ trước đến nay chưa xuất hiện dấu hiệu trẻ em bị nhiễm độc do uống vitamin A.
TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

 

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More
Ten mien dep