Kênh Tên Miền chuyên cung cấp tên miền đẹp, giá rẻ! Hãy liên hệ kỹ thuật: 0914205579 - Kinh doanh: 0912191357 để được tư vấn, hướng dẫn, Cảm ơn quý khách đã ủng hộ trong thời gian qua!

Quảng cáo

Xây dựng thương hiệu cho một tên miền...

Thương hiệu là một cái tên, một khẩu hiệu, một biểu tượng hay một bản thiết kế dễ nhận dạng nhằm đại diện hợp pháp cho một công ty hay cho những sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp...

Kênh tên miền chuyên mua bán tên miền quốc tế...

Những năm gần đây, tầm quan trọng của internet trong truyền thông, công nghệ thông tin và thương mại điện tử được các cơ quan doanh nghiệp chú trọng hơn rất nhiều, nhu cầu mua, thói quen mua bán trực tuyến cũng tăng cao, đặc biệt là trong giới trẻ....

Tên miền giúp bạn tạo sức mạnh để thành công

Khi tạo dựng một thương hiệu người ta nghĩ ngay tới một cái tên, và khi marketing o­nline họ sẽ nghĩ ngay tới tên miền dễ nhớ và dễ quảng bá website sao cho hiệu quả nhất...

Đầu tư cho tên miền đẹp là đầu tư cho sự phát triển

Với 21 triệu người sử dụng internet ở Việt Nam, tìm kiếm trên mạng là một trong những hành vi chủ yếu khi sử dụng internet. Việc có tên miền đẹp, dễ nhớ, thân thiện với công cụ tìm kiếm, có thể ví như có một vị trí đắc địa để hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp lọt vào tầm ngắm của người dùng. Từ vị trí đẹp đến ngôi nhà đẹp...

Hình Thức Thanh Toán khi bạn mua bán tại kênh Tên Miền

KenhTenMien.com hiện tại chấp nhận một số hình thức thanh toán tên miền phổ biến bao gồm:Paypal: Nhanh chóng, tiện lợi cho 2 bên.Chuyên khoản ngân hàng (Bank Wire). Giao dịch trực tiếp: Lấy địa điểm thành phố Đà nẵng làm trung tâm gặp gỡ trao đổi.Khế ước (Escrow.com) – có tính phí ( mỗi bên chịu 50 phần trăm phí tại đây)....

Thursday, June 30, 2011

Cloud Computing – Mô hình PaaS

PaaS là gì?

PaaS (Platform as a Service) hỗ trợ việc triển khai ứng dụng mà không quan tâm đến chi phí hay sự phức tạp của việc trang bị và quản lý các lớp phần cứng và phần mềm bên dưới, cung cấp tất cả các tính năng cần thiết để hỗ trợ chu trình sống đầy đủ của việc xây dựng và cung cấp một ứng dụng và dịch vụ web sẵn sàng trên internet mà không cần bất kì thao tác tải hay cài đặt phần mềm cho những người phát triển , quản lý tin học , hay người dùng cuối.
Khi PaaS có sẵn như một dịch vụ, các developer và ISVs có thể kiểm soát toàn bộ việc phát triển và triển khai ứng dụng . PaaS cho phép các developer và ISV’s tạo ra các ứng dụng web tùy chỉnh và phát hành nó một cách nhanh chóng , khi nhiều rắc rối như việc thiết lập hosting, servers, databases, quá trình tương tác người dùng và những frameworks được đóng gói.
Mô hình PaaS
Mô hình PaaS
PaaS là một khái niệm được biết đến như một dịch vụ nền tảng Cloud Computing. Ứng dụng PaaS là một biến thể của ứng dụng Software as a Server (SaaS).
PaaS còn được biết đến với một tên khác là cloudware.

Đặc trưng

Một ứng dụng PaaS bao gồm các đặc trưng sau đây:
  • Phục vụ cho việc phát triển, kiểm thử, triển khai và vận hành ứng dụng giống như là môi trường phát triển tích hợp.
  • Cung cấp các công cụ khởi tạo với giao diện trên nền web.
  • Có kiến trúc đồng nhất.
  • Tích hợp dịch vụ web và cơ sở dữ liệu.
  • Hỗ trợ cộng tác nhóm phát triển.
  • Cung cấp các công cụ hỗ trợ tiện tích khác.

Ưu điểm

  • Dịch vụ nền tảng (PaaS) đang ở thời kì đầu và được ưa chuộng ở những tính năng  được ưa thích bởi nó cung cấp dịch vụ phần mềm có tích hợp các yếu tố về nền tảng hệ thống.
  • Ưu điểm trong những dự án tập hợp những công việc nhóm có sự phân tán về địa lý.
  • Khả năng tích hợp nhiều nguồn của dịch vụ web.
  • Giảm chi phí ngoài lề khi tích hợp các dịch vụ về bảo mật, khả năng mở rộng, kiểm soát lỗi…
  • Giảm chi phí khi trừu tượng hóa công việc lập trình ở mức cao để tạo dịch vụ, giao diện người dùng và các yếu tố ứng dụng khác.
  • Hướng việc sử dụng công nghệ để đạt được mục đích tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc phát triển ứng dụng đa người dùng cho những người không chỉ trong nhóm lập trình mà có thể kết hợp nhiều nhóm cùng làm việc.

Nhược điểm

  • Ràng buộc bởi nhà cung cấp: do giới hạn phụ thuộc vào dịch vụ của nhà cung cấp.
  • Giới hạn phát triển: độ phức tạp khiến nó không phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh vì những tính năng phức tạp khi hiện thực trên nền tảng web.

Kết luận

Với những ưu điểm to lớn của dịch vụ, một câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp là: nên xây dựng mới hay sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp?
Nhiều doanh nghiệp có cả một danh sách phần cứng để chạy các ứng dụng như các cơ sở dữ liệu , các máy chủ ứng dụng , các hệ thông quản lý thay đổi và các công cụ lần vết tìm lỗi . Tuy vậy ngày nay danh sách này có thể dễ dàng vứt bỏ để thay bằng việc sử dụng các gói phần mềm ấy dưới dạng một dịch vụ đang chạy trên một cơ sở hạ tầng của một nhà cung cấp khác .
Toàn bộ ứng dụng mà một nhóm làm việc có thể phải sử dụng để quản lý một quá trình phát triển có thể thuê với một khoản phí nhỏ sẽ giải phóng cho công ty khỏi phải đầu tư vào phần cứng để chạy chúng . Ví dụ , thay vì mua một máy tính để chạy một hệ thống quản lý mã nguồn  (như Subversion hoặc Git, cả hai là mã nguồn mở và đều miễn phí), một nhóm làm việc có thể sử dụng một dịch vụ quản lý thay đổi dung chúng như là GitHub. Công ty đằng sau GitHub phải gánh chịu chi phí của các tài sản phần cứng và tính một chi phí sử dụng hợp lý cho các tổ chức khác sử dụng dịch vụ Git của họ. Cùng một nguyên tắc thuê phần mềm như là một dịch vụ từ các nhà cung cấp khác như thế này có thể được áp dụng cho việc lần vết tìm lỗi , quản lý các bài kiểm thử và quản lý các yêu cầu.
Cũng có thể nói giống như vậy đối với các tài sản phần cứng hệ thống. Một doanh nghiệp có thể vứt bỏ phần cứng nằm bên dưới của một ứng dụng web cụ thể để thay bằng việc chạy ứng dụng trên phần cứng được cung cấp bởi Amazon, Google hoặc các đối tác khác. Các công ty này quản lý khả năng mở rộng, sao lưu và thậm chí cả vấn đề bảo mật.
Ví dụ bằng cách sử dụng AppEngine của Google một công ty CNTT có thể hạ thấp tổng chi phí mua một cơ sở hạ tầng để chạy các ứng dụng cần thiết. Và họ có thể triển khai các ứng dụng đó nhanh hơn vì vô số các mối quan tâm đan chéo nhau, kết hợp với việc triển khai ứng dụng và quản lý đã được tính đến và vì thế được cung cấp cho họ (với nhiều khả năng là theo một cách tốt hơn).
Nhanh và rẻ không còn có nghĩa là chất lượng thấp. Ngược lại phát triển PaaS là một cách tiếp cận chiến thuật đã được định hình và một quy trình vứng vàng để nhấn mạnh chất lượng.
Anh Ngọc (Nguồn Internet)

Lợi ích của Cloud Computing đối với doanh nghiệp

Ưu việt của Cloud Computing so với những công nghệ có trước là nó cho phép người dùng một khả năng sử dụng tài nguyên hiệu quả, với chi phí thấp, người dùng chỉ trả chi phí cho nhà cung cấp những gì đã sử dụng.
BenefitsCloud_4
Giảm chi phí
Khi doanh nghiệp sử dụng dịch vụ Cloud Computing, đặc biệt là Public Cloud, thì chi phí đầu tư ban đầu rất thấp. Nếu doanh nghiệp tự xây dựng một hệ thống quy mô lớn cho mình thì chi phí đầu tư rất lớn (mua phần cứng, quản lý nguồn điện, hệ thống làm mát, nguồn nhân lực vận hành hệ thống…). Và các dự án tốn kém như vậy thường cần rất nhiều thời gian để được phê chuẩn. Việc xây dựng một hệ thống như vậy cũng đòi hỏi nhiều thời gian. Giờ đây, nhờ Cloud Computing, mọi thứ đã được nhà cung cấp dịch vụ chuẩn bị sẵn sàng, doanh nghiệp chỉ cần thuê là có thể sử dụng được ngay mà không phải tốn chi phí đầu tư ban đầu.
BenefitsCloud_5
Cloud Computing giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư
Một yếu tố giúp giảm chi phí nữa là khách hàng chỉ trả phí cho những gì họ thật sự dùng (Usage-based costing). Với những tài nguyên đã thuê nhưng chưa dùng đến (do nhu cầu thấp) thì khách hàng không phải trả tiền. Đây thật sự là một lợi ích rất lớn đối với doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ Cloud Computing.
Sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn
Nhờ khả năng co giãn (elasticity) nên tài nguyên luôn được sử dụng một cách hợp lý nhất, theo đúng nhu cầu của khách hàng, không bị lãng phí hay dư thừa. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, công nghệ ảo hóa giúp cho việc khai thác tài nguyên vật lý hiệu quả hơn, phục vụ nhiều khách hàng hơn.
BenefitsCloud_2
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên đó là cách “gán” (cấp phát) tài nguyên cho khách hàng. Các mô hình truyền thống hiện thực cấp phát tài nguyên theo kiểu single-tenant: một tài nguyên được cấp phát “tĩnh” trực tiếp cho một khách hàng, như vậy một tài nguyên chỉ có thể phục vụ cho một khách hàng dù cho khách hàng đó có những lúc không có nhu cầu sử dụng thì tài nguyên đó sẽ ở trạng thái rảnh, dư thừa chứ không được thu hồi lại.
clip_image004[4]
Single-tenant
Cloud Computing hiện thực việc phân phối tài nguyên theo kiểu multi-tenant: một tài nguyên có thể được cấp phát “động” cho nhiều khách hàng khác nhau, các khách hàng này sẽ luân phiên sử dụng tài nguyên được cấp phát chung. Với mô hình multi-tenant, một tài nguyên có thể phục vụ cho nhiều khách hàng khác nhau. Như vậy khi khách hàng không có nhu cầu, tài nguyên rảnh sẽ được hệ thống thu hồi lại và cấp phát cho khách hàng khác có nhu cầu.
clip_image006
Multi-tenant
Tính linh hoạt
Nhờ khả năng co giãn mà Cloud Computing cung cấp, hệ thống của khách hàng có khả năng mở rộng hoặc thu nhở một cách linh hoạt tùy theo nhu cầu cụ thể. Doanh ghiệp có thể khởi đầu với quy mô nhỏ, nhu cầu thấp nhưng sau đó phát triển mở rộng quy mô với nhu cầu tăng cao.
Các dịch vụ Cloud Computing có thể được truy xuất ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào thông qua mạng internet.
Khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của mình với giá cả và chất lượng dịch vụ hợp lý nhất.
Với Cloud Computing, doanh nghiệp sẽ chuyển hầu hết trách nhiệm về kiểm soát hệ thống, quản lý hạ tầng, bảo mật, đảm bảo chất lượng dịch vụ… cho nhà cung cấp dịch vụ. Khi đó doanh nghiệp sẽ giảm rất nhiều chi phí và chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là kinh doanh, không phải bận tâm nhiều đến việc quản lý, kiểm soát hệ thống.
Hoàng Hồ (Technetvietnam)

Các mô hình triển khai Cloud Computing

Exalogic Elastic Cloud tập trung hóa thiết bị và tăng hiệu năng hệ thống

 
“Với model SPARC Solaris của Oracle Exalogic Elastic Cloud, những khách hàng đã thực hiện chuẩn hóa trên SPARC Solaris có thể dễ dàng có được những lợi ích rất cao của Oracle Exalogic Elastic Cloud và tập trung hóa trung tâm dữ liệu của họ trong khi vẫn khai thác được các khoản đầu tư và kỹ năng hiện có”. Ông Hasan Rizvi, Phó Chủ tịch cao cấp, phụ trách Oracle Fusion Middleware khẳng đinh tại buổi công bố hệ thống Oracle Exalogic Elastic Cloud T3-1B vào đầu tháng 12/2010.

Đạt hiệu suất cao cho những ứng dụng trọng yếu











“Với model SPARC Solaris của Oracle Exalogic Elastic Cloud, những khách hàng đã thực hiện chuẩn hóa trên SPARC Solaris có thể dễ dàng có được những lợi ích rất cao của Oracle Exalogic Elastic Cloud và tập trung hóa trung tâm dữ liệu của họ trong khi vẫn khai thác được các khoản đầu tư và kỹ năng hiện có”. Ông Hasan Rizvi, Phó Chủ tịch cao cấp, phụ trách Oracle Fusion Middleware khẳng đinh tại buổi công bố hệ thống Oracle Exalogic Elastic Cloud T3-1B vào đầu tháng 12/2010.

Hệ thống mới này có thể mang lại hiệu năng, khả năng mở rộng và độ sẵn sàng cao dựa trên các máy chủ SPARC Solaris cho các hệ thống được thiết kế phục vụ Oracle Exalogic Elastic Cloud.

Được thiết kế dành cho các triển khai quy mô lớn và các ứng dụng trọng yếu, Oracle Exalogic Elastic Cloud là một hệ thống tích hợp hoàn chỉnh giữa phần cứng và phần mềm của Oracle, đã được Hãng kiểm thử và tinh chỉnh để chạy các ứng dụng Java và các ứng dụng không dựa trên nền tảng Java với hiệu năng đỉnh cao.

Oracle Exalogic Elastic Cloud T3-1B kết hợp các máy chủ SPARC chạy Oracle Solaris 11 Express với chuyển mạch I/O InfiniBand, Oracle WebLogic Server và các sản phẩm phần mềm lớp giữa Oracle middleware dựa trên nền tảng Java. Tất cả các model phần cứng bao gồm cả các hệ thống X2-2 đã được công bố trước đây và một hệ thống T3-1B mới, đều được thiết kế, lắp ráp, kiểm thử và tinh chỉnh tại nhà máy để cắt giảm đáng kể thời gian từ khi cung cấp thiết bị cho đến lúc triển khai ứng dụng hoạt động đầy đủ.

Những tính năng mở rộng

Oracle Exalogic Elastic Cloud có thể hỗ trợ hàng nghìn ứng dụng Java và ứng dụng không dựa trên nền tảng Java với các yêu cầu khác nhau về an ninh, độ tin cậy và hiệu năng. Khả năng được mở rộng đã biến model này trở thành một nền tảng lý tưởng dành cho việc tập trung hóa trung tâm dữ liệu trên phạm vi toàn doanh nghiệp. Điều này, kết hợp với sự hỗ trợ dành cho hoạt động đa người dùng ở cấp độ doanh nghiệp và khả năng đáp ứng những yêu cầu về cấp độ dịch vụ khắt khe nhất, biến Oracle Exalogic Elastic Cloud trở thành nền tảng đáng tin cậy với hiệu quả cao dành cho điện toán đám mây.









Mô hình Oracle Exalogic Elastic Cloud T3-1B chạy hệ điều hành Oracle Solaris được tối ưu hóa cao độ dành cho các ứng dụng đa luồng, cho phép người dùng đạt được hiệu năng cao hơn dành cho phần mềm Java doanh nghiệp đa luồng, như là Oracle WebLogic Server.

Model này còn cung cấp cho người dùng năng lực phân tích phần mềm theo chiều sâu và giúp phát hiện các sự cố phần cứng trước khi chúng xảy ra thông qua sự tích hợp giữa các máy chủ SPARC T-Series chạy hệ điều hành Oracle Solaris, và hỗ trợ các năng lực như Tự hồi phục Dự Báo Oracle Solaris (Oracle Solaris Predictive Self Healing). Sản phẩm này góp phần ngắn thời gian gián đoạn hoạt động đột xuất thông qua sử dụng Oracle Solaris SMF (Service Management Framework) để tự động khởi động lại các cấu phần phần mềm gặp sự cố bên trong Oracle Exalogic Elastic Cloud.

Với Oracle Solaris Zones, các thiết lập của Oracle WebLogic Server và các cấu phần Oracle Fusion Middleware khác có thể được cô lập một cách hiệu quả và an toàn trở thành những môi trường ảo khác nhau để đạt được mức độ sử dụng tài nguyên phần cứng tối ưu. Oracle Solaris Zones cũng có thể được di chuyển một cách an toàn và hiệu quả giữa các máy chủ vật lý.

Người dùng có thể tập trung hóa các ứng dụng Oracle Solaris hiện tại của mình trên Oracle Exalogic Elastic Cloud sử dụng tính năng Oracle Solaris 10 Zones tích hợp, cho phép các môi trường ứng dụng được di chuyển vào trong các môi trường Oracle Exalogic Elastic Cloud ảo mà không cần thay đổi bất cứ điều gì.

Hệ thống mới thực sự cải tiến, nâng cao hiệu năng của toàn bộ danh mục sản phẩm Oracle Fusion Middleware dựa trên máy chủ Oracle WebLogic. Chiếc máy này còn được tối ưu hóa để tích hợp với Oracle Database 11g, Oracle Real Application Clusters và Oracle Exadata Database Machine.

Anh Ngọc (Nguồn TCBCVT)

Hiện thực của Clound Computing

I.  Hiện thực cloud computing: Các thông tin được tham khảo trên Wikipedia http://en.wikipedia.org/wiki Cloud computing cung cấp hạ tầng, nền tảng và phần mềm như là dich vụ, mà có thể được cung ứng như là một dich vụ cho thuê trong cách dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu đối với người dùng.
Cloud computing được hiện thực theo 3 kiểu:
 - Infrastructure-as-a-Service (IaaS - Dịch vụ hạ tầng): Cung cấp cho người dùng hạ tầng thô (thường là dưới hình thức các máy ảo) như là một dịch vụ. 
Những kiến trúc ảo xếp chồng là một ví dụ của xu hướng mọi thứ là dịch vụ và có cùng những điểm chung. Hơn hẳn một máy chủ cho thuê, không gian luu trử tập trung hay thiết bị mạng, máy trạm thay vì đầu tư mua những nguyên thì có thể thuê đầy đủ dịch vụ bên ngoài. Những dịch vụ này thông thường được tính chi phí trên cơ sở tính toán chức năng và lượng tài nguyên sử dụng (và từ đó ra chi phí) sẽ phản ảnh được mức độ của hoạt động. Đầy lầ một sự phát triển của những giải pháp lưu trữ web và máy chủ cá nhân ảo. 
Tên ban đầu được sử dụng là dịch vụ phần cứng (HaaS) và được tạo ra bởi một nhà kinh tế học Nichlas Car vào thang 3 năm 2006, nhưng điều này cần thiết. Nhưng từ này đã dần bị thay thế bởi khái niệm dịch vụ hạ tầng vào khoảng cuối năm 2006.

Những đặc trưng tiêu biểu:
  -Cung cấp tài nguyên như là dịch vụ: bao gồm cả máy chủ, thiết bị mạng, bộ nhớ, CPU, không gian đĩa cứng, trang thiết bị trung tâm dữ liệu.
  -Khả năng mở rộng linh hoạt
  -Chi phí thay đổi tùy theo thực tế
  -Nhiều người thuê có thể cùng dùng chung trên một tài nguyên
  -Cấp độ doanh nghiệp: đem lại lợi ích cho công ty bởi một nguồn tài nguyên tích toán tổng hợp
Các ví dụ: Amazon EC2/S3, Elastra (Beta 2.0 2/2009), Nirvanix, AppNexus    Platform-as-a-Service (PaaS - Dịch vụ nền tảng): Cung cấp API cho phát triển ứng dụng trên mộtt nền tảng trừu tượng
Cung cấp nền tảng tinh toán và một tập các giải pháp nhiều lớp. Nó hỗ trợ việc triển khai ứng dụng mà không quan tâm đến chi phí hay sự phức tạp của việc trang bị và quản lý các lớp phần cứng và phần mềm bên dưới, cung cấp tất cả các tính năng cần thiết để hỗ trợ  chu trình sống đầy đủ của việc xây dựng và cung cấp một ứng dụng và dịch vụ web sẵn sàng trên Internet mà không cần bất kì thao tác tải hay cài đặt phần mềm cho những người phát triển,  quản lý tin học, hay  người dùng cuối. Nó còn được biết đến với một tên khác là cloudware. 

Cung cấp dịch vụ nền tảng (PaaS) bao gồm những điều kiện cho qui trình thiết kế ứng dụng, phát triển, kiểm thử, triển khai và lưu trữ ứng dụng có giá trị như là dịch vụ ứng dụng như cộng tác nhón, săp xếp và tích hợp dịch vụ web, tích hợp cơ sở dữ liệu, bảo mật, khả năng mở rộng, quản lý trạng thái, phiên bản ứng dụng, các lợi ích cho cộng đồng phát triển và nghiên cứu ứng dụng. Những dịch vụ này được chuẩn bị như là một giải pháp tính hợp trên nền web.

Những đặc trưng tiêu biểu:
   -Phục vụ cho việc phát triển, kiêm thử, triển khai và vận hành ứng dụng giống như là môi trường phát triển tích hợp
   -Các công cụ khởi tạo với giao diện trên nền web. Kiến trúc đồng nhất
Tích hợp dịch vụ web và cơ sở dữ liệu Hỗ trợ cộng tác nhóm phát triển
   -Công cụ hỗ trợ tiện tích

Các yếu tố: Thuận lợi:
o  Dịch vụ nền tảng (PaaS) đang ở thời kì đầu và được ưa chuộng ở những tính năng vốn được ưa thích bơi dịch vụ phần mềm (đề cập sau), bên cạnh  đó có tích hợp các yếu tố về nền tảng hệ thống.
o  Ưu điểm trong những dự án tập hợp những công việc nhóm có sự phân tán  về địa lý.
o  Khả năng tích hợp nhiều nguồn của dich vụ web
o  Giảm chi phí ngoài lề khi tích hợp các dịch vụ về bảo mật, khả năng mở  rộng, kiểm soát lỗi…
o  Giảm chi phí khi trừu tượng hóa công việc lập trình ở mức cao để tạo dục  vụ, giao diện người dùng và các yếu tố ứng dụng khác.
 o  Mong đợi ở người dùng có kiến thức có thể tiếp tục hoàn thiện và hỗ trợ  tương tác với nhiều người để giúp xác định mức đô khó khăn của vấn đề  chúng ta gặp phải.
o  Hướng việc sử dụng công nghệ để đạt được mục đích tạo điều kiện dễ  dàng hơn cho việc phát triển ứng dụng đa người dùng cho những người  không chỉ trong nhóm lập trình mà có thể kết hợp nhiều nhóm cùng làm  việc

Khó khăn:
o  Ràng buộc bởi nhà cung cấp: do giới hạn phụ thuộc và dịch vụ của nhà  cung cấp
o  Giới hạn phát triển: độ phức tạp khiến nó không phù hợp với yêu cầu phá  triển nhanh vì những tính năng phức tạp khi hiện thực trên nền tảng web. zosso (2/2008), Google App Engine, Salesforce, Heroku, Engine Yard Software-as-a-Service (SaaS - Dịch vụ phần mềm): Cung cấp dịch vụ phần mềm thực thi từ xa. Dịch vụ phần mềm (SaaS) là một mô hình triển khai ứng dụng mà ở đó người cung cấp cho phép người dụng sử dụng dịch vụ theo yêu cầu. Những nhà cung cấp SaaS có thể lưu trữ ứng dụng trên máy chủ của họ hoặc tải ứng dụng xuống thiết bị khách hàng, vô hiệu hóa nó sau khi kết thúc thời hạn. Các chức năng theo yêu cầu có thể được kiểm soát bên trong để chia sẻ bản quyền của một nhà cung cấp ứng dụng thứ ba.

Những đặc trưng tiêu biểu
-Phần mềm sẵn có đòi hỏi việc truy xuất, quản lý qua mạng.
-Quản lý các hoạt dộng từ một vị trí tập trung hơn là tại mỗi nơi của khách hàng, cho phép khác hàng truy xuất từ xa thông qua web.
-Cung cấp ứng dụng thông thường gần gũi với mô hình ánh xạ từ một đến nhiều hơn là mô hình 1:1 bao gồm cả các đặc trưng kiến trúc, giá cả và quản lý.
-Những tính năng tập trung nâng cấp, giải phóng người dùng khỏi việc tải các bản vá lỗi và cập nhật.
Thường xuyên tích hợp những phần mềm giao tiếp trên mạng diện rộng
Các ví dụ: 3Tera (2/2006), Salesforce

II. Một số ví dụ về cách tính chi phí trong Cloud      -Định giá cố định: nhà cung cấp sẽ xác định rõ đặc tả về khả năng tính toán cố định (dung lượng bộ nhớ được cấp phát, loại CPU và tốc độ .v.v…)
    -Định giá theo đơn vị: được áp dụng phổ biến cho lượng dữ liệu truyền tải, dụng lượng bộ nhớ được cấp phát và sử dụng,… cách này uyển chuyên hơn cách trên
    -  Định giá theo thuê bao: ứng dụng phần lớn trong mô hình dịch vụ phần mềm (SaaS) người dùng sẽ tiên đoán trước định mức sử dụng ứng dụng cloud (cách tình này thường khó đạt được độ chính xác cao)

III. Market oriented Cloud computing:đề cập kiến trúc được R. Buyya đề nghị trong bài báo
“Market-Oriented Cloud Computing: Vision, Hype, and Reality for Delivering IT Services as Computing Utilities”
Với những tiến bộ của xã hội con người hiện đại, những dịch vụ thiết yêu được cung cấp rộng rãi để mọi người đều có thể tiếp cận như điện, nước, gá và điện thoại đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Những dịch vụ tiện ích này có thể được sử dụng thương xuyên cần được sẵn sàng ở mọi nơi mà người dùng mong muốn vào mọi lúc. Khác hang sau đó có thể trả cho nhà cung cấp dịch vụ dựa trên lượng sử dụng các dịch vụ tiện ích đó. Tương tự như các ví dụ trên, giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng cần có những thỏa thuận cụ thể được nêu trong SLA (Service Level Agreement) trong đó xác định vể yêu cầu chất lượng dịch vụ QoS (Quality of Service)

Kiến trúc Market Oriented Cloud:
Khách hàng phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ Cloud cung cấp tất cả năng lực tính toán họ cần,  họ yêu cầu về chất lượng dich vụ QoS phải được duy trì bởi nhà công cấp để phù hợp với mục tiêu và đảm bảo hoạt động của họ. Nhà cung cấp Cloid se cẫn xem xét để đáp ứng các yêu cầu về dịch vụ của mỗi khách hàng để thương lượng với SLA cụ thể. Để đạt được điều này, nhà cung cấp dịch vụ Cloud không thể tiếp tục triển khai trên
mô hình quản lý tài nguyên tập trung mà ở đó không cung cấp cho họ khả năng chia sẻ tài nguyên mà vẫn đáp ứng được tất cả các yêu cầu về dịch vụ. Thay vào đó, mô hình quản lý market-oriented được đề cập để đạt được sự cân đối  giữu nhà cung cấp và khách hàng.

Kiến trúc bao gồm 4 thành phàn chủ yếu:
User/Broker (Người dùng/ Nhà môi giới): người dùng hay nhà phân phối sử dụng quền ủy thác để gửi yêu cầu dịch vụ từ bất kì đâu trên thế giới tới Data center (trung tâm dữ liệu) hay Cloud để được xử lý SLA Resource Allocator (Bộ phân phối tài nguyên SLA): đóng vai trò như một trung gian giữa các nhà cung cấp Data center và Cloud với người dùng/ nhà môi giới bên ngoài. 
 
 Kiến trúc Market-Oriented Cloud
Service Request Examiner and Admission Control: khi một yêu cầu dịch vụ được gửi lên lần đầu sẽ được phien dich thành các yêu cầu về chất lượng dịch vụ QoS trước khi xác định xem nó sẽ được chấp nhận hay từ chối. Do vậy, điều đó đảm bảo răng không có tình trạng quá tải dịch vụ khi mà các yêu cầu dịch vụ không the được đáp ứng đầy đủ vì giới hạn tài nguyên hệ thống sẵn sàng. Nó cung cần thông thin về trạng thái cuối cùng về tình trạng sẵn sàng của tài nguyên (từ cơ chế VM Monitor) và khả năng xử lý tải (từ cơ chế Service Request Monitor) theo thứ tự để quyết định việc phân phối tài nguyên một cách hiệu quả. Sau đó nó sẽ phân yên cầu cho các máy ảo VM và xác định đặc tả tài nguyên cho máy ảo được phân. Pricing: cung cấp cơ chế quyết định cách các yêu cầu service được tính tiền.
Vi dụ như yêu cầu có thê được tính tiền dựa theo thời gian các nhiệm vụ, tỷ lệ giá cả (cố định/thay đổi) hay tính sẵn sàng của tài nguyên (sẵn có/yêu cầu). Cơ chế định giá phục như nề tảng cho cung vâp và yêu cầu tài nguyên tính toán trong Data center và các trang thiết bị trong việc cấp phát tài nguyên hiệu quả.
Accounting: cung cấp cơ chế để thao tác trên lưu lượng dùng tài nguyên được yêu cầu do đó chi phí cuối cùng có thể được tính toán và tính phí cho người dùng. Thêm vào đó, lịch sử sử dụng có thể được dùng để tối ưu bởi Service Request Examiner and Admission Control
VM Monitor: cung cấp cơ chế lưu vết những máy ảo sẵn sàng và các thông tin về tài nguyên của chúng.
Dispatcher: cung cấp cơ chế bắt đầu thực thi việc cấp phát máy ảo VM của những yêu cầu dịch vụ đã được chấp nhận.
Service Request Monitor: cung cấp cơ chết lưu vết tiến trình của yêu cầu dịch vụ VMs (các máy ảo): nhiều máy ảo có thê được mở và tắt dộng trên một máy vật lý để phù hợp với yêu cầu dịch vụ, do đó việc chuẩn bị tối đa để có thể chia nhỏ tài nguyên để có thể đáp ứng các yêu cầu cụ thể của yêu cầu dịch vụ. Thêm vào đó, nhiều máy ảo VM có thể chạy động thời ứng dụng trên những môi trường hệ điều hanh khác nhau trên một máy vật lý duy nhât do các máy ảo VM tách biệt hoàn toàn vói các máy khác trên cung máy vật lý Physical Machines (các máy vật lý): Những trung tâm dữ liệu bao gồm nhiều máy chủ có thể cung cấp tài nguyên phù hợp với yêu cầu.

IV. Mô phỏng Cloud: xem xét một ví dụ như CloudSim trong bài viết của R. N. Calheiro và các đồng nghiệp “CloudSim: A Novel Framework for Modeling and Simulation of Cloud Computing Infrastructures and Services”

Kiến trúc CloudSim
Một cách tổng thể bao gồm 4 lớp:
SimJava: mức thấp nhất trong kiến trúc bao gồm những công cụ mô phỏng sự kiên dùng để hiện thục những chức năng cốt lõi cần thiết cho việc mô phỏng ở lớp cao hơn như sắp xếp và xử lý sự kiện, khởi tạo các thành phần, các thành phần giao tiếp và quản lý mô phỏng đồng hồ .

GridSim: bộ công cụ hỗ trợ các thành phần phần mềm cấp cao hơn để mô hình hóa nhiều nền tăng lưới, bao gồm cả hệ thống mạng và liên kết đồng bộ những thành phần cơ bản của lưới như tài nguyên, tạp dữ liệu, lưu vết tải và dịch vụ thông tin.
CloudSim: là phần hiện thực ở mức thiếp theo bởi việc mở rộng tự đọng các tính năng cơ bản được cung cấp bởi lớp GridSim. CloudSim cung cấp hỗ trợ lý thuyết cho việc mô hình và mô phỏng hóa những môi trường tập trung dữ liệu dựa trên nền tảng Cloud. Lớp CloudSim  quản lý việc khởi tạo và thực thi các thực thể cốt lõi (máy ảo, máy chủ, trung tâm dữ liệu, ứng dụng) trong suốt quá trình mô phỏng. Lớp này có khả năng khởi tạo đồng thời và quản lý mở rộng trong suốt với những nề tảng Cloud bao gồm ngàng nghìn thành  phần hệ thống. Những vấn đề cơ bản như chuẩn bị triển khai máy ảo
VM dựa trên yêu cầu người dùng, quản lý quá trinh thực thi ứng dung và theo dõi dộng đều được quản lý bởi lớp này. Người cung cấp Cloud có thể hiện thực những chiến lược của họ để tự đọng mở rộng lõi của chức năng chuẩn bị triển khai máy ảo VM.
User-code: đây là lớp trên cùng của hệ thống mô phỏng cho phép cấu hình những chức năng liên quan cho các máy chủ (số lượng, đặc tả cho chúng và những việc khá), ứng dung (số lượng các tác vụ và yêu cầu của chúng), các máy ảo VM, số lượng người dùng và các loại ứng dụng và chính sách định thời môi giới. Một người phát triển ứng dụng Cloud có thể tạo ra nhiều sự phân tán yêu cầu người dung, cấu hình ứng dung, và những ngữ cảnh ở lớp này.

Kiến trúc lớp của CloudSim
Mô hình Cloud
Kiến trúc dịch vụ nền tảng liên quan đến Cloud được mô hình hóa trong chương trình mô phỏng bởi thành phần Datacenter cho việc quản lý yêu cầu dich vụ. Datacenter được tạo bởi các tập hợp các Host, có trách nhiêm để quản lý các máy ảo VM trong chu kì sống của chúng. Các Host là những thành phần biểu thị cho các nút trong Cloud: nó được cài đặt sẵn khả năng xử lý (biểu diễn qua đơn vị MIPS = milion of instruction per second), bộ nhớ, khả năng lưu trữ và chính sách định thời để xử lý việc cấp phân phát lõi tính toán cho các máy ảo. Các thành phần máy Host thực giao diên hỗ trợ mô hình hóa và mô phỏng cho cả những nút 1 nhân và đa nhân.

Việc phân phối máy ảo phục vụ cho ứng dụng cụ thể nào đó đến các thành phần Host là trách nhiệm của thanh phần Virtual Machine Provisioner. Thành phần này cung cấp một tập các phương thức cho người nghiên cứu, với những hỗ trợ trong việc hiện thực chính sách mới dựa trên những mục tiêu về tối ưu. Những chính sách mặc định hiện có sẵn rất giản đơn theo hướng ai đến trước sẽ được phục vụ trước.

Với mỗi thành phần Host, sư cấp phát các lõi tính toàn tới các máy ảo được thực hiện dựa trên việc câp phát của hót. Những chính sách tìm xem trong tài khoản có bao nhiêu lõi tính toán được giao cho mỗi máy ảo và bao nhiêu khả năng còn sẵn. Do vây, có thể cấp phát lõi CPU cho máy ảo cụ thể hay là phân tán động giữa các máy ảo (chia sẻ theo thoi gian) và gán lõi cho máy ảo theo yêu cầu hoặc là theo một chính sách cụ thể nào đó.

Mỗi thành phần Host khởi tạo một bộ định thời máy ảo hiện thực việc cấp phát theo không gian hay thời gian. Những người nghiên cứu hay phát triển Cloud có thê mở rộng bộ định thời máy ảo VM để thử nghiệm với một vài chính sách cáp phát. Kết đến chi tiết liên quan đến chinh sách chia sẻ theo thời gian và không gian sẽ được để cập.

Mô hình cấp phát máy ảo VM
Một trong những ý tưởng khiến Cloud computing khác biệt với Grid computing là việc triển khai tối đa công nghệ ảo hóa và các công cụ.
Mô hình ứng dụng cổ điển ánh xạ cá chính xác các nốt tính toán và các ứng dụng riêng rẽ không còn phù hợp trong sự trừu tượng hóa tính toán trong môi trường Cloud. Ví dụ như hai Datacenter chay tren mot Host co 1 nhân. Mặc dù có vẻ như có sự tách biệt nhưng tổng lượng tài nguyên sẵn có bị rang buộc bơi năng lực của host. Những yếu tố quan trọng này cần được xem xét  trong tiến trình xem xet quyết định cấp phát tài nguyên. Để cho phép giả lập những chính sách khác nhau, Cloud Sim hỗ trợ việc đinh thời máy ảo VM ở hai mức: trước tiên taim mức Host và sau đó là mức máy ảo VM. Ở mức đầu tiên, có thể xác định rõ tổng năng lực xử lý của mỗi nhân trong hót sẽ được gán cho mỗi máy ảo. Tại mức tiếp theo, các máy ảo VM sẽ được phân rõ tổng năng lực xử lsy cu thể cho mỗi tác vụ được thực thi. Tại mỗi mức, CloudSim hiện thực chính sách cấp phát tài nguyên theo thời gian và không gian.

Mô hình chợ Cloud
Hỗ trợ dịch vụ đóng vai trò như là người môi giới giữa nhà cung cấp dịch vụ Cloud và khác hàng thông qua những dich vụ so trùng là điểm nhấn của Cloud computing. Hơn thế, những dịch vụ này cần cơ chế để xác định chi phí dịch vụ và các chính sách về giá.

Mô hinh chính sách chi phí và giá cả la một ý tưởng caand được xem xét khi thiết kết chương trình mô phỏng Cloud, bốn thuộc tính được xem xét đến cho một Datacenter:
Chi phí mỗi bộ xử lý
Chi phí mỗi đơn vị bộ nhớ
Chi phí mỗi đơn vị lưu trữ
Chi phí mỗi đơn vị băng thông sử dụng
Chi phí mỗi đơn vị bộ nhớ và lưu trữ được kèm theo trong quá trinh khởi tạo máy ảo Chi phí mỗi đơn vị băng thông sử dụng có trong quá trình truyền dữ liệu. Bên cạnh đó, các chi phí sử dụng bộ nhớ, lưu trữ, băng thông và các chi phí liên quan có mỗi liên hệ với việc sử dụng tài nguyên tính toán. Do vậy, nếu máy ảo VM được tạo mà không có tác vụ nào thực thi trên chúng, thì chỉ có chi phí về bộ nhớ và lưu trữ. Những vấn đề này có thể được thay đổi bởi người dùng.
Anh Ngọc (Tổng hợp Internet)

Hướng Dẫn Cài Đặt OpenQRM trên CentOS 5.6

openQRM là nền tảng quản lý Data-center thế hệ mới. Đây là một kiến trúc tự động, nhanh chóng, có khả năng triển khai, giám sát, đáp ứng cao, cloud computing và đặc biệt là hỗ trợ nhiều công nghệ ảo hóa khác nhau. OpenQRM là một giao diện quản lý đơn cho tòan bộ kiến trúc, và có khả năng tích hợp những công cụ của hãng thứ ba thông qua các plugins.
Sau đây, Kênh Giải Pháp sẽ đưa ra lọat bài giới thiệu về công nghệ điện tóan đám mây này.

Phần 1: Hướng Dẫn Cài Đặt openQRM trên CentOS 5.6

1- Cài đặt CentOS 5.6

Quá trình cài đặt CentOS khá đơn giản. Tuy nhiên trong quá trình cài đặt cần phải tạo ra một phân vùng riêng để chứa các “Server-image store”. Hoặc các bạn có thể sử dụng một ổ đĩa khác.
Tiếp  theo là chỉnh file /etc/hosts.

 

2- Chuẩn bị không gian lưu trữ cho Server-Image

pvcreate /dev/sdb1
vgcreate vol /dev/sdb1


3- Cài đặt Enterprise iSCSI Target

yum -y install kernel-devel openssl-devel gcc rpm-build
mkdir ietd
cd ietd/
wget http://sourceforge.net/projects/iscsitarget/files/iscsitarget/1.4.20.1/iscsitarget-1.4.20.1.tar.gz
tar -xzf iscsitarget-1.4.20.1.tar.gz
cd iscsitarget-1.4.20.1
make && make install
/etc/init.d/iscsi-target start


4- Chuẩn bị CSDL
yum -y install mysql-server
/etc/init.d/mysql start
chkconfig mysqld on


5- Cài đặt openQRM

yum -y install subversion
svn co https://openqrm.svn.sourceforge.net/svnroot/openqrm openqrm
cd openqrm/trunk/src/
make && make install && make start


6- Cấu hình openQRM

Sau khi cài đặt xong thì các bạn có thể vào giao diện quản lý thông qua địa chỉ: http://ipaddress/openqrm. Với user và password mặc định là openqrm.


Quốc Dũng (Từ OpenQRM)

Tổng quan về Windows Server 2008 Hyper-V

ZeroClient - Giải pháp ảo hóa hiệu quả dành cho doanh nghiệp

Virtual Desktop Infrastructure (VDI) là một giải pháp nhằm ảo hóa và thực thi các ứng dụng desktop thông thường trên Server, cùng với khả năng sử dụng Virtual Desktop Machine (VDM) từ xa nhưng vẫn đảm bảo được khả năng bảo mật của hệ thống.

Đối với phương thức truyền thống Server Base Computing (SBC) thì tất cả ứng dụng đều chạy trên một phiên bản hệ điều hành, sau đó chia sẽ cho nhiều user thông qua Presentation Layer (Microsoft Terminal Service hoặc Citrix Presentation Server). Tuy nhiên việc triển khai và sử dụng SBC còn nhiều điểm chưa hợp lý và hoàn thiện.
Đối với SBC thì VDI có nhiều cải tiến và ưu điểm hơn như:
+ User được quyền điều khiển Desktop, giúp tăng kinh nghiệm sử dụng
+ Hầu như không có lỗi phức tạp khi sử dụng các ứng dụng
+ Khả năng đáp ứng cao, việc di chuyển VMs dễ dàng giữa các server
+ Quản lý tập trung và dễ dàng điều khiển
+ Khả năng backup hiệu quả, giúp tăng cường khả năng bảo mật và độ tin cậy của dữ liệu

Giải pháp VDI Hardware của Fujitsu


1. Zero Client

Đây là tiêu điểm chính của giải pháp. Tất cả những gì User cần là FPGA tích hợp vào màn hình. Chi phí giảm đi đáng kể do không có các thành phần như nguổn, bộ xử lý, ổ cứng, ổ DVD, RAM, quạt…

Ngoài ra, người sử dụng còn có thể truy cập được ứng dụng từ xa thông qua thiết bị “Portable Zero Client” tương tự như USB 3G.

2. PRIMERGY Servers

Chủ yếu sử dụng Blabe Server do dòng này thích hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống VDI từ vừa tới lớn.

3. VDI Storage
 
Chủ yếu sử dụng ETERNUS FC Storage do sản phẩm này có độ tin cậy cao. Ngoài ra còn chức năng Failover giúp cho dữ liệu được tiếp cận liên tục.

4. VDI Networking

Server được kết nối với Ethernet Switch với băng thông 1 Gbps. Bằng thông từ Ethernet Switch đến Zero Client  là 100 Mbps. Do đó, có thể hỗ trợ đến 50 clients trên một Server.
Zero Client thông thường tiêu thụ khoảng 1.8 Mbps cho công việc văn phòng. 0.5 kbps ở trạng thái rãnh rỗi.

5. Display Protocol

Pano Direct Protocol (PDP) được sử dụng giữa Zero Client và Zero Client Manager. Protocol này được thiết kế với khả năng tích hợp mà không cần dung đến CPU. Ngoài ra, không giống như VMware PCoIP hoặc Citrix HDX/ICA, PDP không đòi hỏi bất cứ phần mở rộng hoặc phương thức nén đặc biệt nào.

6. ZeroCient Device Initialization
 

Giải pháp VDI Software của Fujitsu

1. Zero Client Manager

Luôn được triển khai như là một thiết bị VM. Hỗ trợ VMware vSphere, Citrix XenServer và Microsoft Hyper-V.

Không cần thiết bị quản lý local. ZC Manager có thể hoạt động như VM Manager, Connection broker và ZC device inventory.

2. Server Management Software: RCVE


RCVE có khả năng nhận biết và giảm số lượng Server ở trạng thái Stand-by và tự động phục hồi. Do đó, đây là một giải pháp tiết kiệm hiệu quả ở Virtual & Physical Layer.

 
Ngoài ra, RCVE còn có thể cho biết trạng thái của tất cả VDI Client và Server trên giao diện đồ họa.


4. OS licenses for Virtual PCs


Phương thức duy nhất mua bản quyền Microsoft Client OS (WinXP, Win7…) trên môi trường ảo hiện này là Windows Virtual Desktop Access (VDA). VDA được cung cấp với giá khá mềm $100/năm/thiết bị. Ngoài ra, việc sử dụng sản phẩm thuộc Microsoft thông qua Volume licensing cũng được giảm giá.

Khu vực triển khai Zero Client

Mô hình triển khai giải pháp VDI rất phổ biến và đa dạng.


Quốc Dũng (Từ Fujitsu)

EBOOK Napoleon Bonaparte Một cuộc đời

1.TÁC GIẢ: E.Tac.Le







2.NỘI DUNG:

Napoléon Bonaparte (15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821; phát âm như Na-pô-lê-ông; Hán-Việt: Nã Phá Lôn hoặc Nã Phá Luân) là vị tướng của Cách mạng Pháp, và là người cai quản nước Pháp như là Quan tổng tài số một của Cộng hòa Pháp từ 11 tháng 11 năm 1799 đến 18 tháng 5 năm 1804, sau đó là Hoàng đế Pháp (Empereur des Français) và vua Ý với tên Napoléon I từ 18 tháng 5 năm 1804 đến 6 tháng 4 năm 1814, và tiếp tục từ 20 tháng 3 đến 22 tháng 6 năm 1815.Napoléon Bonaparte sinh năm 1769 tại Ajjacio, thuộc đảo Corse, trong một gia đình quý tộc sa sút, cha ông là một viên chức tòa án. Khi Napoleon ra đời, đảo Corse là thuộc địa của nước cộng hòa Genoa sau đó đã được bán cho nước Pháp, Napoleon từ nhỏ đã thể hiện tính cách cứng rắn và có tinh thần dũng cảm cũng như mưu trí. Cha ông phát hiện thấy tích cách mãnh liệt của Napoleon nên đã cho ông sang Pháp học tại trường quân sự Brienne, lúc đầu ông muốn học về hải quân nhưng do ý muốn của mẹ, ông quyết định học ngành pháo binh, chính đây là cái nôi đầu tiên tạo ra một vị chỉ huy lục quân tài giỏi cho nước Pháp.

Bất hạnh đến với gia đình Napoleon khi ông vào học được bốn tháng thì cha ông qua đời. Tại trường quân sự Brienne, Napoleon đa thể hiện rõ tài năng của mình. Với thành tích học tập ưu tú, ông được giới thiệu vào học tại trường quân sự Paris sau đó được cử đi thực tập tại một trung đội với chức danh thiếu úy.

Ngày 14 tháng 7, 1789 cách mạng tư sản Pháp bùng nổ lật đổ chế độ quân chủ, Napoleon đã tham gia tích cực trong câu lạc bộ giacôbanh, lúc này ông mang quân hàm trung úy, để tránh thế lực thân Anh tại đảo Corse, Napoleon đưa gia đình mình về Marsheille cách mạng Pháp đã làm chấn động cả châu âu các thế lực phong kiến Châu âu liên kết tấn công nuớc Pháp, quân đội cách mạng tiến đến đâu đều giành được thắng lợi nhưng còn quân cảng toulon nằm ở miền nam nước Pháp vẫn bị quân bảo hoàng và quân Anh chiếm đóng, Napoleon lúc ấy là thượng úy chỉ huy một đội pháo binh được điều đến chiến trường toulon, tại đây lần đầu tiên Napoleon đã chỉ huy pháo binh lập nên kỳ công đánh tan tác hạm đội Anh, lập nên chiến công trác tuyệt, ông được ủy ban cức quốc nước cộng hòa đặc cách phong quân hàm thiếu tướng.





3.DOWNLOAD:




Click here

Pass: sachdoanhtri


Note: Đọc trước khi down

Tôi muốn làm sếp

“Tôi muốn làm sếp!” Thật là một điều mong muốn cực kỳ tự nhiên phải không? Sau bao nhiêu năm là một nhân viên chăm chỉ, đạt được những thành tích nổi bật, bạn có quyền nghĩ đến một bước tiến cao hơn, xa hơn: Trở thành trưởng phòng, giám đốc bộ phận và thậm chí tổng giám đốc công ty.

“Tại sao lại không nhỉ?” Thế nhưng để làm sếp con đường cũng lắm trắc trở chông gai. Bạn cần có một kế hoạch hành động hợp lý và cụ thể, nếu không ngoảnh lại những năm tháng mình bỏ công sức ra sẽ chẳng được gì.


Hiểu rõ nguyên tắc thăng chức
Thực tế các sếp thường rất “kén cá chọn canh”trong các đợt thăng chức. Chỉ những nhân viên xuất sắc nhất của mỗi phòng ban mới được sếp trực tiếp cất nhắc với sếp cao hơn (trưởng phòng hoặc giám đốc nhân sự) để được duyệt lên chức.


Tại các công ty quốc tế, quy trình xét duyệt thăng chức còn “gắt củ kiệu”hơn: đó là khi các trưởng phòng cùng ngồi lại với nhau để quyết định xem nhân viên có hội đủ điều kiện cần thiết để được thăng chức hay không. Nếu bạn không đạt đủ “số phiếu bầu” của các thành viên trong “bồi thẩm đoàn”này, cơ hội thăng chức sẽ còn rất xa tầm tay bạn.


Hãy chủ động và đừng nghĩ rằng sếp biết bạn giỏi như thế nào
Đó là trường hợp của Hương, một nhân viên mẫn cán và thường xuyên đạt nhiều thành tích tốt tại một công ty quốc tế tiếng tăm. Trong suốt 3 năm làm việc, cô luôn tâm niệm rằng sếp hiểu rõ sự đóng góp của mình và cơ hội thăng tiến sẽ đến gần… Thế nhưng, 3 năm trôi qua nhưng cơ hội đó vẫn mịt mù.


Thì ra công ty của Hương có đến gần 300 nhân viên, và những nỗ lực của cô vì không được “PR” khéo léo đã khiến cho cô bị “chìm” giữa những nhân viên khác.


Đây là tình huống đòi hỏi ở bạn sự khéo léo, bởi nếu quá nôn nóng bạn sẽ khó đạt được mục đích, nhưng nếu quá “khiêm tốn” thì bạn sẽ trở thành người “vô hình”. Có thể sếp vì quá bận rộn nên không để ý đến sự đóng góp của bạn.


Nếu vậy bạn hãy chủ động bàn với sếp của mình về cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình. Ví dụ “Tôi/em nghĩ đang nghĩ đến khả năng được thăng chức trong vòng X tháng nữa. Xin anh/chị cho biết tôi/em cần đạt được những thành tích cụ thể nào để được thăng chức?”


Kế hoạch hành động


Cẩm nang dành cho những người muốn trở thành sếp thật ra là một công thức rất đơn giản: Nhiệt huyết + Thànhtích + Biết “PR” thành tích.
- Nhiệt huyết


Tất cả các sếp đều đánh giá cao những nhân viên làm “hết việc” chứ không “hết giờ”. Có thể họ không cần phải chăm chỉ như chú ong, nhưng một khi ngồi vào bàn làm việc là làm hết mình, và không hề biết “hóng chuyện” với đồng nghiệp xung quanh.


Thành tích


Nếu bạn có rất nhiều nhiệt tâmnhưng thành tích không xuất sắc thì cũng sẽ “pó tay”. Cứ vào dịp cuối năm các sếp sẽ đánh giá thành tích của nhân viên. Vì vậy, ngay từ đầu năm bạn phải có kế hoạch làm việc hợp lý để đạt được kết quả tốt nhất cho cả năm làm việc.


Biết “PR” thành tích


Trường hợp của Hương ở trên chothấy sự “khiêm tốn” quá mức đôi khi không tốt. Nếu bạn thực sự giỏi giang và năng động, hãy tự tin thể hiện bản thân mình. Bằng cách nào ư? Hãy tranh thủ các dịp bạn hoàn thành các dự án quan trọng của công ty để gửi email cảm ơn tất cả những người liên quan.


Bạn cũng có thể đứng trước côngty tự tin trình bày những đề xuất mới của mình. Đó là cách để bạn khéo léo đánh bóng thành tích của mình trước các sếp, để khi các đợt duyệt thăng chức của công ty đến, họ sẽ không phải hỏi nhau “Anh A, cô B này là ai nhỉ?”


Nếu bạn đã áp dụng tất cả những biện pháp trên nhưng cơ hội thăng tiến vẫn mãi ở nơi nào đó xa lắm, thì có lẽ bạn nên đi tìm cơ hội mới cho mình.


Bạn thấy đó, con đường thăng chức không trải đầy thảm êm cho bạn bước chân. Bạn cần đặt ra mục tiêu thăng tiến cụ thể và phải kiên trì theo đuổi đến cùng mục tiêu của mình.


Bạn còn cần cả sự khéo léo và tinh tế để được mọi người “tâm phục khẩu phục”, chủ đề mà chúng tôi sẽ trình bàytrong bài viết kế tiếp.

Sách DOANH TRÍ's Blog
(Theo PNNN)

Quản lý đĩa trên linux dùng kỹ thuật LVM (Phần 1)

LVM là một phương pháp cho phép ấn định không gian đĩa cứng thành những Logical Volume khiến cho việc thay đổi kích thước trở nên dễ dàng ( so với partition ). Với kỹ thuật Logical Volume Manager (LVM) bạn có thể thay đổi kích thước mà không cần phải sửa lại partition table của OS. Điều này thực sự hữu ích với những trường hợp bạn đã sử dụng hết phần bộ nhớ còn trống của partition và muốn mở rộng dung lượng của nó.




Trong bài viết này có 1 số thuật ngữ mà các bạn phải hiểu để sử dụng tốt LVM. Những điều quan trọng bạn phải biết là:

  • Physical volumes : là những đĩa vật lý hoặc phân vùng đĩa của bạn chẳng hạn như /dev/hda hoặc /dev/hdb1. Khi bạn muốn sử dụng chỉ cần mount vào thôi. Đối với việc sử dụng LVM chúng ta có thể kết hợp nhiều physical volumes thành volume groups
  • Volume groups : là một nhóm bao gồm các physycal volumes thực và dung lượng này được sử dụng để tạo ra các logical volumes, trong đó bạn có thể làm được những điều như sau : tạo, thay đổi kích thước, gỡ bỏ và sử dụng. Bạn có thể xem volume group như 1 “phân vùng ảo”
  • Logical volumes  : là những volumes cuối cùng sau khi mount vào hệ thống của mình, bạn có thể thêm vào, gỡ bỏ và thay đổi kích thước một cách nhanh chóng. Kể từ khi chúng chứa trong các volume group bạn có thể làm cho nó lơn hơn bất kỳ physical volume đơn lẻ mà bạn muốn. (ví dụ bạn có 4 ổ đĩa mỗi ổ 5GB khi bạn kết hợp nó lại thành 1 volume group 20GB, và bạn có thể tạo ra 2 logical volumes mỗi disk 10GB)
Trong ngôn ngữ LVM không còn partition nữa, tất cả là volume: physical/group/logical volume.

Một số công cụ của LVM:


Thứ tự trong LVM được xếp chồng lên nhau từ trên xuống 1 cách hợp lý như sau :


Minh họa cấu hình LVM

Giả sử có 4 SCSI HDD là /dev/sdb, /dev/sdc/, /dev/sdd, /dev/sde; dung lượng mỗi HDD là 20GB như vậy có 80GB sức chứa. Cần tạo ra 3 partition: SHARE 20GB; BACKUP 10GB; MEDIA 10GB và còn lại 40GB dùng cho raid-1. Các công cụ quản lí disk thông thường không làm được điều này vì mỗi partition cần tạo lớn hơn từng HDD nhưng LVM thì có thể. Kĩ thuật LVM sẽ ghép 4 HDD lại thành một partition lớn FILESERVER rồi lại chia FILESERVER ra thành các partition nhỏ hơn là SHARE, BACKUP, MEDIA, UNUSED



Tạo partition LVM từ harddisk

Dùng lệnh fdisk –l xem thông tin harddisk


Hiện giờ HD từ sdb – sde chưa được khởi tạo, chúng ta sẽ tạo ra các phân vùng sdb1, sdc1, sdd1, sde1 ta dùng lệnh sau:

fdisk /dev/sdb

n, p, 1, enter, enter

Chuyển kiểu partition thành Linux LVM (kiểu 8e): t, 8e

Lưu lại partition table và thoát khởi fdisk: w

Lặp lại các thao tác trên với các HDD còn lại để cuối cùng thu được các partition /dev/sdb1, /dev/sdc1, /dev/sdd1,
/dev/sde1 với filesystem là Linux LVM


sdb đến sde tất cả đã được khởi tạo thành công

Tiếp theo chúng ta bắt đầu thiết lập những phân vùng mới từ mỗi LVM partition tạo một PV dùng lệnh sau:

pvcreate

pvcreate  /dev/sdb1  /dev/sdc1  /dev/sdd1  /dev/sde1



Kiểm tra lại 4 PV vừa tạo bằng lệnh xem thông tin về PV: pvs hoặc pvdisplay


Bây giờ ta tạo ra volume group FILESERVER theo yêu cầu trên và thêm /dev/sdb1 - /dev/sde1 vào FILESERVER

vgcreate


Kiểm tra lại VG vừa tạo bằng lệnh xem thông tin về VG: vgs hoặc vgdisplay


Hiện tại ta đang có 80GB trong VG ta tiến hành tạo các LG từ VG theo yêu cầu trên

lvcreate –n




Sau bước này có thêm các file device /dev/fileserver/share, /dev/fileserver/backup, /dev/fileserver/media

Tham số [Path_PV] để chỉ rõ ra LV được tạo từ PV nào

Tham số này có ích khi LV gồm nhiều hơn một PV. Khi hệ thống gặp sự cố một PV nào đó bị hỏng, nếu PV này không tham gia tạo LV thì LV không bị ảnh hưởng.

Tham số -s quyết định đến dung lượng tối đa của LV (xem giải thích ở mục sau). Mặc định size LE là 4MB và dung lượng LV tối đa là 256 GB. Nếu muốn hơn để size LE là 16 MB và max LV là hơn 1TB.

Kiểm tra lại LV vừa tạo bằng lệnh xem thông tin về LV: lvs hoặc lvdisplay


Chú ý

Khi thực hiện các lệnh pvcreate, vgcreate, lvcreate có thể có thông báo liên quan đến CD chẳng hạn: “/dev/cdrom: open failed: read-only file system”. Lí do là trước khi thực hiện các lệnh tạo này tất cả các block device được scan qua và ở đây CD drive đã được scan (nhưng không thể đọc được).

Ngoài ra đặt trường hợp ta muốn tăng partition /dev/fileserver/media ban đầu là 10GB lên 15GB ta dùng lệnh sau :

lvextend -L15G /dev/fileserver/media

Nếu muốn giảm nó xuống còn 5GB ta dùng lệnh sau:

lvreduce –L5G /dev/fileserver/media


cho tới bây giờ ta đã có 3 LV, nhưng ta không có bất kỳ filesystem nào trong đó và nếu như ta không có filesystem thì ta sẽ không thể lưu bất cứ điều gì trong đó. Vì vậy ta phải tạo ra filesystem EXT3 cho share, xfs filesystem cho backup và ext3 filesystem cho media.

Tạo filesystem ext3 cho /dev/fileserver/share

mkfs.ext3 /dev/fileserver/share


Tạo filesystem xfs cho /dev/fileserver/backup

Trước khi tạo filesystem xfs ta phải cài thêm những gói sau:

yum install xfs

yum install kmod-xfs.i686 xfsdump.i386 xfsprogs.i386 dmapi


Sau đó tiến hành định dạng filesystem

mkfs.xfs /dev/fileserver/backup


Tạo filesystem ext3 cho /dev/fileserver/media

mkfs.ext3 /dev/fileserver/media
Bây giờ chúng ta tiến hành mount LV. Tôi sẽ mount partition share vào /var/share, backup vào /var/backup và media vào /var/media. Trước hết ta cần tạo những thư mục trên

mkdir /var/media /var/backup /var/share

Dùng lệnh mount cho 3 partition share,backup,media

mount /dev/fileserver/share /var/share

mount /dev/fileserver/backup /var/backup

mount /dev/fileserver/media /var/media


Gõ lệnh df –h để xem thông tin các partition

 

Hoàn thành việc thiết lập hệ thống LVM, ta có thể write/read từ các thư mục /var/share, /var/backup, /var/media 1 cách bình thường, phần này ta mount bằng tay nhưng ở đây ta muốn khi hệ thống khởi động sẽ mount auto do đó ta cần phải sữa đổi file /etc/fstab các bước làm như sau:

vi /etc/fstab



Khởi động lại, dùng lệnh df -h xem các partition đã được mount tự động.

Hoàng Lâm (từ LVM)

Mount LVM (Logical Volumes Manage) hdd trong CentOS

1. Scan tìm kiếm các logical volumes manage có sẵn trên hệ thống.
[root@cpanelvn/]# vgscan –mknodes
Reading all physical volumes.  This may take a while…
Found volume group “VolGroup00″ using metadata type lvm2
2. Active các volume group lên
[root@cpanelvn/]# vgchange -ay
2 logical volume(s) in volume group “VolGroup00″ now active
3. Và liệt kê ra
[root@cpanelvn/]# lvscan
ACTIVE            ‘/dev/VolGroup00/LogVol00′ [231.25 GB] inherit
ACTIVE            ‘/dev/VolGroup00/LogVol01′ [1.50 GB] inherit
4. Mount
[root@cpanelvn/]# mount /dev/VolGroup00/LogVol00 /boot
Cuối cùng cần phải chỉnh sửa chút file /etc/fstab để hệ thống tự mount khi boot:
Thêm dòng sau vào /etc/fstab:
/dev/hdc5               /boot                  ext3    defaults        1 2
Enjoy.

Khôi phục mật khẩu admin Kloxo – LxAdmin

Kloxo (trước kia có tên là LxAdmin) là một hosting controller miễn phí và khá phù hợp với các website nhỏ, cần có control nhưng lại không muốn bỏ chi phí để mua control. Thông thường, khi cài xong Kloxo bạn sẽ có account mặc định gồm user và pass đều là admin. Trường hợp bạn quên pass của Kloxo thì có thể kết nối vào root qua SSH, rồi tiến hành gõ 2 lệnh sau:
[root@server-187-13]#cd /usr/local/lxlabs/kloxo/httpdocs
[root@server-187-13 httpdocs]#lphp.exe ../bin/common/resetpassword.php master new_password
Trong đó new_password là mật khẩu mới của Kloxo.
Chúc các bạn thành công.

What is opportunity cost?


An opportunity cost is defined as the value of a forgone activity or alternative when another item or activity is chosen. Opportunity cost comes into play in any decision that involves a tradeoff between two or more options. It is expressed as the relative cost of one alternative in terms of the next-best alternative. Opportunity cost is an important economic concept that finds application in a wide range of business decisions.

What is opportunity cost?

Opportunity costs are often overlooked in decision making. For example, to define the costs of a college education, a student would probably include such costs as tuition, housing, and books. These expenses are examples of accounting or monetary costs of college, but they by no means provide an all-inclusive list of costs. There are many opportunity costs that have been ignored: (1) wages that could have been earned during the time spent attending class, (2) the value of four years’s job experience give up to go to school, (3) the value of any activities missed in order to allocate time to studying, and (4) the value of items that could have purchased with tuition money or the interest the money could have earned over four years.

These opportunity costs may have significant value even though they may not have a specific monetary value. The decision maker must often subjectively estimate Opportunity costs. If all options were purely financial, the value of all costs would be concrete, such as in the example of a mutual fund investment. If a person invests $10,000 in Mutual Fund ABC for one year, then he forgoes the returns that could have been made on that same $10,000 if it was placed in stock XYZ. If returns were expected to be 17 percent on the stock, then the investor has an opportunity cost of $1,700. The mutual fund may only expect returns of 10 percent ($1,000), so the difference between the two is $700.

This seems easy to evaluate, but what is actually the opportunity cost of placing the money into stock XYZ? The opportunity cost may also include the peace of mind for the investor having his money invested in a professionally managed fund or the sleep lost after watching his stock fall 15 percent in the first market correction while the mutual fund’s losses were minimal. The value of these aspects of opportunity cost are not so easy to quantify. It should also be noted that an alternative is only an opportunity cost if it is a realistic option at that time. If it is not a feasible option, it is not an opportunity cost.

Opportunity-cost evaluation has many practical business applications, because opportunity costs will exist as long as resource scarcity exists. The value of the next-best alternative should be considered when choosing among production possibilities, calculating the cost of capital, analyzing comparative advantages, and even choosing which product to buy or how to spend time. According to Kroll, there are numerous real-world lessons about opportunity costs that managers should learn:
1.      Even though they do not appear on a balance sheet or income statement, opportunity costs are real. By choosing between two courses of action, you assume the cost of the option not taken.
2.      Because opportunity costs frequently relate to future events, they are often difficult to quantify.
3.      Most people will overlook opportunity costs.

Because most finance managers operate on a set budget with predetermined targets, many businesses easily pass over opportunities for growth. Most financial decisions are made without the consultation of operational managers. As a result, operational managers are often convinced by finance departments to avoid pursuing value-maximizing opportunities, assuming that the budget simply will not allow it. Instead, workers slave to achieve target production goals and avoid any changes that might hurt their short-term performance, for which they may be continually evaluated.

People incur opportunity cost with every decision that is made. When you decided to read this article, you gave up all other uses of this time. You may have given up a few minutes of your favorite television program or a phone call to a friend, or you may have even forgone the opportunity to invest or earn money. All possible costs should be considered when making financial or economic decisions, not simply those that can be concretely measured in term of dollars or rates of return.

Dena Waggoner, Reference for Business. Retrieved July 31, 2011, from www.referenceforbusiness.com

Script tự động xóa log cho LXadmin / Kloxo

Bạn đang sử dụng VPS hay Server riêng với control panel LXadmin / Kloxo , dụng lượng diskspace của bạn rất hạn chế nhưng các file log luôn được tăng lên liên tục làm đầy diskspace server của bạn! Để khắc phục vấn đề này, bạn có thể tạo script sau để tự động xóa những log này mỗi ngày !Bước một: Đăng nhập vào SSH của VPS / Server
Bước hai: Tạo file /etc/cron.daily/cleankloxolog.sh với lệnh sau:
vi /etc/cron.daily/cleankloxolog.sh
Bước ba: nhấn phím “i” để thêm vào cleankloxolog.sh với nội dung:
# !/bin/bash
rm -rf /home/admin/_processed_stats/*
rm -rf /home/kloxo/httpd/lighttpd/*
rm -rf /var/log/kloxo/*
rm -f /home/httpd/*/stats/*
Sau đó dùng “:wq” để lưu lại
Bước bốn: chmod file này để có quyền thực thi:
chmod 755 /etc/cron.daily/cleankloxolog.sh

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More
Ten mien dep