Kênh Tên Miền chuyên cung cấp tên miền đẹp, giá rẻ! Hãy liên hệ kỹ thuật: 0914205579 - Kinh doanh: 0912191357 để được tư vấn, hướng dẫn, Cảm ơn quý khách đã ủng hộ trong thời gian qua!

Quảng cáo

Xây dựng thương hiệu cho một tên miền...

Thương hiệu là một cái tên, một khẩu hiệu, một biểu tượng hay một bản thiết kế dễ nhận dạng nhằm đại diện hợp pháp cho một công ty hay cho những sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp...

Kênh tên miền chuyên mua bán tên miền quốc tế...

Những năm gần đây, tầm quan trọng của internet trong truyền thông, công nghệ thông tin và thương mại điện tử được các cơ quan doanh nghiệp chú trọng hơn rất nhiều, nhu cầu mua, thói quen mua bán trực tuyến cũng tăng cao, đặc biệt là trong giới trẻ....

Tên miền giúp bạn tạo sức mạnh để thành công

Khi tạo dựng một thương hiệu người ta nghĩ ngay tới một cái tên, và khi marketing o­nline họ sẽ nghĩ ngay tới tên miền dễ nhớ và dễ quảng bá website sao cho hiệu quả nhất...

Đầu tư cho tên miền đẹp là đầu tư cho sự phát triển

Với 21 triệu người sử dụng internet ở Việt Nam, tìm kiếm trên mạng là một trong những hành vi chủ yếu khi sử dụng internet. Việc có tên miền đẹp, dễ nhớ, thân thiện với công cụ tìm kiếm, có thể ví như có một vị trí đắc địa để hàng hoá, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp lọt vào tầm ngắm của người dùng. Từ vị trí đẹp đến ngôi nhà đẹp...

Hình Thức Thanh Toán khi bạn mua bán tại kênh Tên Miền

KenhTenMien.com hiện tại chấp nhận một số hình thức thanh toán tên miền phổ biến bao gồm:Paypal: Nhanh chóng, tiện lợi cho 2 bên.Chuyên khoản ngân hàng (Bank Wire). Giao dịch trực tiếp: Lấy địa điểm thành phố Đà nẵng làm trung tâm gặp gỡ trao đổi.Khế ước (Escrow.com) – có tính phí ( mỗi bên chịu 50 phần trăm phí tại đây)....

Sunday, May 31, 2009

Giới thiệu CMS


Định nghĩa CMS
Một CMS (Content Management System) hay hệ thống quản lý nội dung được sử dụng để điều khiển và chỉnh sửa nội dung. Nội dung bao gồm tập tin điện tử, hình ảnh, video, file âm thanh, tài liệu điện tử và văn bản web. Khái niệm chính đằng sau một CMS là tạo ra những tập tin có sẵn cho việc chỉnh sửa nội bộ hoặc trên nền Internet. Một CMS thường được sử dụng để lưu trữ tài liệu rất tốt. Rất nhiều công ty sử dụng CMS để tổ chức và lưu trữ những tập tin dưới dạng công cộng. Nhiều công ty sử dụng CMS có thể chia sẻ nọi dung với người khác một cách dễ dàng, như hầu hết các hệ thống bây giờ.

Hệ thống quản lý nội dung trang web chủ yếu được sử dụng để kiểm soát và xuất bản các văn bản dựa trên các tài liệu như bài viét, tài liệu dạng văn bản và thông tin. Một CMS bình thường có thể cung cấp các tính năng sau đây:

- Nhập và tạo ra các tài liệu, video và các hình ảnh
- Xác định người sử dụng chính và vai trò của mình trong hệ thống quản lý nội dung
- Một khả năng để chỉ định một số vai trò và quyền lợi cùng với hệ thống quản lý tài liệu với các kiểu nội dung khác nhau các chuyên mục.
- Xác định cho việc quản lý và sơ đồ cong việc của hệ thống,đưa ra định nghĩa, nhiệm vụ, và thậm chí có thể gắn liền với thông điệp để các nhà quản lý nội dung sẽ được thông báo về các thay đổi nội dung một cách cụ thể.
- Một khả năng để ghi chép, theo dõi và quản lý rất nhiều các phiên bản của cùng một nội dung hay tập tin - một hệ thống quản lý tài liệu với nhiều phiên bản
- Một khả năng để xuất bản nội dung vào một khu lưu trữ tập trung, để tạo điều kiện lớn hơn truy cập vào nội dung. Quan trọng hơn là với thời gian, kho này là một yếu tố quan trọng của hệ thống CMS, tích hợp và tìm kiếm và các phương pháp thu hồi.
- Một số hệ thống quản lý nội dung (CMS) cho phép dùng định dạng của một số văn bản trong tài liệu như: phông chữ, màu sắc, bố trí bố cục…
Để có thể hiểu rõ hơn về CMS, bạn hãy click vào đây để biết được định nghĩa chính xác của CMS trên Wikipedia (bằng tiếng Anh).
Những CMS mã nguồn mở WEB MỸ THUẬT ứng dụng:

Joomla! là CMS phát triển từ nhóm kỹ sư phát triển CMS Mambo của tập đoàn CNTT Miro (Úc) tách ra kết hợp các thành viên phát triển nòng cốt. CMS này được viết bằng PHP và truy xuất CSDL bằng MySQL, cho phép người sử dụng có thể dễ dàng xuất bản các nội dung của họ lên Internet hoặc Intranet.
Joomla! được phát âm theo tiếng Swahili như là jumla nghĩa là "đồng tâm hiệp lực"
Joomla đuợc sử dụng rộng rãi trên thế giới từ các tổ chức chính phủ của Liên Hợp Quốc, Mỹ,... cho tới các trường đại học danh tiếng thế giới như đại học Harvard, đại học Yale,... hay các tập đoàn tài chính lớn như Citibank cũng đều sử dụng Joomla để quản lý và phát triển cho website của mình. Joomla là bộ CMS có giao diện trực quan, dễ sử dụng, tính tùy biến cao cũng như tính năng bảo mật cao vì được cập nhập thường xuyên từ hơn chục ngàn chuyên viên CNTT khắp thế giiới tham gia cập nhập, hỗ trợ. Ở Việt Nam, Joomla là CMS được sử dụng nhiều nhất, từ những người mới tập làm web cho tới những nhà quản trị và phát triển web chuyên nghiệp, và đã phát triển hẳn thành một cộng đồng sử dụng Joomla Việt Nam.
Bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin về CMS Joomla (Ứng dụng, Lịch sử, Các phiên bản, Nhóm nòng cốt, Kiến trúc,....) tại Wikipedia (bằng Tiếng Việt).

Drupal là một khung sườn phát triển phần mềm hướng mô-đun, một hệ thống quản trị nội dung miễn phí và mã nguồn mở. Drupal được một lập trình viên người Hà Lan tên là Dries Buytaert tạo ra theo dạng một hệ thống bảng tin. Cũng giống như các hệ thống quản trị nội dung hiện đại khác, Drupal cho phép người quản trị hệ thống tạo và tổ chức dữ liệu, tùy chỉnh cách trình bày, tự động hóa các tác vụ điều hành và quản lý hệ thống những. Drupal có cấu trúc lập trình rất tinh vi, dựa trên đó, hầu hết các tác vụ phức tạp có thể được giải quyết với rất ít đoạn mã được viết, thậm chí không cần. Đôi khi, Drupal cũng được gọi là "khung sườn phát triển ứng dụng web", vì kiến trúc thông minh và uyển chuyển của nó.
Đặc biệt năm 2008, Drupal được bình chọn là CMS tốt nhất trong năm, soán ngôi của Joomla tồn tại suốt hơn 3 năm.
Bạn có thể tìm hiểu thêm về CMS Drupal (Ứng dụng, Lịch sử, Nền tảng,.... ) tại từ điển Bách Khoa Điện Tử Trực Tuyến Wikipedia (bằng tiếng việt)
(WEB MỸ THUẬT - Trích Wikipedia)

Lập trình bằng tay (Hand-code)


Lập trình HTML bằng tay (hand-code)
là một kỹ năng lập trình cao cấp. Khi đó, người lập trình viên không sử dụng các chương trình thiết kế web như Microsoft Fontpage, Adobe Dreamweaver để lập trình mà lập trình trực tiếp bằng tay để tạo trang web. Điều này nhằm bảo đảm trang web của bạn luôn tương thích với mọi loại trình duyệt, không chứa các đoạn mã dư thừa do các công cụ sinh ra trong quá trình tạo trang, qua đó giảm kích thước trang, tăng khả năng đáp ứng của website.

Kỹ thuật lập trình này đòi hỏi người lập trình viên phải nắm vững các đoạn mã cần thiết để tạo trang web HTML. Điều này chỉ có được khi thực hiện khi lập trình viên đã thực hiện qua nhiều dự án, có nhiều kinh nghiệm thiết kế và xử lý mã.

Tổ chức World Wide Web Consortium

Một buổi báo cáo tại W3C
World Wide Web Consortium, viết tắt W3C, là một hiệp hội lập ra các chuẩn cho Internet, nhất là cho World Wide Web. Chủ tịch của W3C là Ngài Tim Berners-Lee, người sáng tạo ra HTTP HyperText Transfer Protocol) và HTML (HyperText Markup Language). Internet dựa trên các kỹ thuật đó. Hiệp hội W3C luôn có những hợp tác chặt chẽ với các đối tác lớn như Microsoft, Mozilla Foundation, Apple,.... để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn của W3C tương thích với các trình web engine khác nhau.
Mỗi tiêu chuẩn đi qua bốn giai đoạn: Phác thảo (Working Draft), Chỉnh sửa Cuối cùng (Last Call), Trình chuẩn (Proposed Recommendation) và Chuẩn đủ Tư cách Ứng cử (Candidate Recommendation), trước khi được gọi là Chuẩn Chính thức (Recommendation). Các nhà công nghiệp phần mềm được tự quyết định có theo tiêu chuẩn hay không. Thông thường, nhiều trong số họ theo các tiêu chuẩn này.

W3C Standard là một chứng nhận cho các website được thiết kế đúng chuẩn của W3C. Những website được kiểm tra và cấp chứng nhận W3C là đều có thể tương thích và hiển thị tốt trên tất cả các trình duyệt web phổ biến hiện nay.

(Theo wikipedia)

FLI Club về Hồ Chí Minh

Chia sẻ của mr Kiên DT - 1 người tham dự buổi sinh hoạt tuần qua.
Copy and paste từ Chợ Dưa.

"Rất cảm động được nghe những bài hát về Bác với MC TGĐ FPT.

Câu hay nhất của MC NamNT hôm nay có lẽ là: "Đã là lãnh tụ bao giờ cũng cô đơn. Đến cả lúc sang thế giới bên kia"."

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3862

Định nghĩa từ SEO


Search Engine Optimization (SEO), tạm dịch tiếng Việt là tối ưu hóa website cho công cụ tìm kiếm, một hình thức quảng bá Web trên công cụ tìm kiếm. Thuật ngữ này diễn giải, định nghĩa một cách đầy đủ có nghĩa là tối ưu hóa Website nhằm có thứ hạng cao trong trang kết của của các máy tìm kiếm với mục đích thu hút lượng truy cập của người dùng, khách hàng tiềm năng khi họ tìm kiếm những liên quan tới nội dung của trang Web.


Với một từ khóa nhất định phù hợp với nội dung trang web, chỉ khi trang web của bạn nằm trong số 10 địa chỉ đầu tiên trong trang kết quả của máy tìm kiếm thì mới được coi là có vị trí tốt và mang lại nhiều người truy cập. Chính vì vậy, việc quảng bá đôi khi là vấn đề sống còn với nhiều trang Web.
Kỹ thuật SEO để quảng bá Web tập hợp nhiều chiến thuật cho phép :
  • Giới thiệu trang Web đến các máy tìm kiếm.
  • Giúp các máy tìm kiếm, bọ tìm kiếm đánh chỉ số trang Web dễ dàng và đầy đủ, sau đó trả lại kết quả cho người dùng Internet.
  • Có một vị trí cao nhất có thể trong kết quả tìm kiếm. Tức là thỏa mãn các yêu cầu trong thuật toán xác định độ xác thực thông tin của từng máy tìm kiếm hòng xuất hiện trong những kết quả đầu tiên, trang đầu tiên nếu có thể.
Vậy ta có thể định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ về SEO là
Thu hút lượng truy cập người dùng tiềm năng, hấp dẫn bởi nội dung trang Web đã được tối ưu, thông qua các máy tìm kiếm

Giấc mơ Chaebol

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3858

Friday, May 29, 2009

Làm sao để đạt 10K views / ngày?

FLI blog hiện giữ ở mức 2000 views / ngày. Làm gì để nâng lên mức 10K/ngày?

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3854

Nghệ thuật thương thuyết: Trời phú hay học tập?

Phải chuẩn bị những gì trước khi ngồi vào bàn đàm phán? Làm thế nào để có thể thương thuyết thành công? Xin giới thiệu những kinh nghiệm mà tác giả Phan Văn Trường - một thương gia thành công người Pháp gốc Việt đã đúc kết qua hơn 40 cuộc thương thuyết vòng quanh thế giới của ông.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3851

Ảnh hưởng của Tỷ lệ click chuột với kết quả tìm kiếm Google




Tỷ lệ click chuột (click-through rate - CTR) là số lần click chuột của một trang web trong một khoảng thời gian nhất định được ghi nhận bởi các công cụ tìm kiếm. Vậy tỷ lệ click chuột CTR này ảnh hưởng thế nào tới thứ hạng website trên trang kết quả tìm kiếm. Liệu Google có sử dụng tỷ lệ click chọn CRT trong việc sắp xếp thứ hạng trang Web không? Và bạn phải làm gì để tăng tỷ lệ CTR này?




Có một điều chắc chắn trong dịch vụ quảng cáo trả tiền của Google: Google sử dụng tỷ lệ click chuột để xếp thứ hạng trong các kết quả tìm kiếm mất phí. Càng nhiều người click vào một quảng cáo thì thứ hạng của nó lại càng được xếp cao hơn trong kết quả tìm kiếm. Liệu Google có sử dụng phương thức này cho các tìm kiếm thông thường hay không ?




Tại sao lại phải tính đến tỷ lệ nhắp chuột CTR
Khi nghiên cứu 10 kết quả tìm kiếm đầu tiên, thì người ta nhận thấy chúng đều có một phương thức giống nhau. Một lượng rất lớn người dùng sẽ chọn những kết quả tìm kiếm xuất hiện đầu tiên, một số khác sẽ chọn kết quả thứ hai, và ít người chọn kết quả nằm thứ 3, v.v.
Nhìn chung, việc phân bố tỷ lệ nhắp chọn trên các kết quả tìm kiếm khác nhau đều tương tự với mọi từ khóa. Ví dụ, đây là biểu đồ thống kê số lần nhắp chọn cho các kết quả tìm kiếm nằm ở vị trí thứ 1 cho đến thứ 10.
Hình 1: Tỷ lệ nhắp chuột bình thường cho 10 kết quả tìm kiếm đầu tiên.
Chúng ta nhận thấy tỷ lệ click chọn giảm dần từ vị trí thứ 1 cho tới thứ 10. Số lượng người dùng thật sự có ý nghĩa trong 5 kết quả đầu tiên. Cần chú ý rằng vị trí đầu tiên ở trang thứ 2 (kết quả thứ 11 trong trường hợp chỉ hiển thị 10 kết quả/trang) sẽ lớn hơn tỷ lệ ứng với các vị trí cuối cùng của trang đầu tiên.
Còn nếu một trang xuất hiện trong kết quả tìm kiếm nhưng lại nhận được tỷ lệ nhắp chọn bất thường thì Google sẽ dễ dàng xác định ra nó.
Hình 2: Tỷ lệ nhắp chuột bất thường của một trang trong top 10 kết quả tìm kiếm Google.
Trong ví dụ này, vị trí thứ 6 nhận được nhiều nhắp chọn hơn tỷ lệ trung bình tại vị trí này. Dường như trang Web ứng với vị trí thứ 6 này thu hút người dùng hơn.
Và như các bạn đã biết, Google luôn nỗ lực để trả về các kết quả tốt nhất, hữu ích nhất cho người dùng trong trang kết quả tìm kiếm. Bởi vậy nếu có nhiều người dùng nhắp chọn một kết quả, Google rất có thể sẽ đưa trang đó lên một vị trí cao hơn trong kết quả tìm kiếm. Và khi làm như thế, thì Google đã xếp hạng cao hơn những Website hấp dẫn, thu hút, và người dùng sẽ hài lòng hơn với kết quả tìm kiếm.



Làm cách nào để có tỷ lệ CTR cao?



Như đã nói ở trên. Các bạn có thể thấy tỷ lệ click chuột cao hay thấp không phải chỉ do webmaster tối ưu kỹ thuật cho website mà do chính người dùng Google quyết định. Như vậy việc duy nhất để tăng tỷ lệ click chuột CTR là "tối ưu hóa" thông tin cung cấp tới người dùng (gọi là snipper) ở phần tiêu đề, cụ thể là ở thẻ meta description.
Một Snipper được trích tối đa 70 chữ từ thẻ meta description trên kết quả Google



Một “snippet” Google là một đoạn trích dẫn của trang cho phép người dùng thấy được nội dung từ khóa tìm kiếm được in đậm và xuất hiện trong trang kết quả của Google. Sau đó họ sẽ quyết định lựa chọn trang nào có chứa thông tin bổ ích. Nói chung, người dùng sẽ lựa chọn một cách chủ định (và nhanh chóng) các trang được mô tả với từ khóa tìm kiếm trong văn bản.



Khi mà tiêu đề trang Web và phần mô tả càng rõ rảng, cuốn hút người dùng Google thì càng nhiều người sẽ lựa chọn chúng. Vô hình chung trang Web của bạn sẽ có thứ hạng cao hơn. Vì vậy, đứng thứ hạng cao chưa phải là đủ mà bạn còn cần người dùng nhắp chọn vào trang của bạn trong kết quả tìm kiếm.



Ngoài ra, việc tối ưu hóa thông tin snipper bằng thẻ meta description cũng rất quan trọng, vì nếu không được tối ưu tốt, Google sẽ không đánh giá cao thông tin website của bạn và bỏ qua, không xếp hạng website đó. Sau đây là một số lời khuyên để tối ưu hóa thẻ meta description với Google:
  • Tạo mỗi description khác nhau ở mỗi trang

  • Các description phải chứa các thông tin quan trọng về trang web đó

  • Lập trình tự động để tạo các mô tả (nhất là các trang tin tức)

  • Nội dung mô tả phải có chất luợng (vì nó hiện ra ở trên kết quả Google với người dùng)


SEOSITE1

Tiên trách sếp, hậu trách nhân viên

Xưa có câu ""tiên trách kỷ, hậu trách nhân"". Thế nên, trước khi trách mắng nhân viên về bất kỳ điều gì đó, các sếp cũng nên nhìn lại xem mình có khuyết điểm gì đáng để lưu tâm và sửa chữa hay không.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3850

Thursday, May 28, 2009

Showroom Creative đầu tiên tại Việt Nam




Basic CMYK


Những ai yêu thích và muốn tìm hiểu các sản phẩm giải trí cho máy tính cá nhân và internet mang thương hiệu Creative từ nay có thể hoàn toàn yên tâm và thoải mái khi đến với showroom Creative trưng bày những sản phẩm chính hãng do Công ty Cổ phần truyền thông đa phương tiện Tân Quang phân phối và bảo hành.





Đây là Showroom Creative đầu tiên tại Việt Nam được khai trương vào ngày 15 tháng 1 năm 2009. Tại đây, với dịch vụ hoàn hảo và phòng thử âm thanh cao cấp, quý khách hàng có thể tìm hiểu thông tin về tất cả các sản phẩm của Creative và khám phá những công nghệ mới nhất của Creative.





Hiện nay, Creative đang được biết đến là một hãng dẫn đầu trên toàn cầu về các sản phẩm trong lĩnh vực âm thanh và thiết bị giải trí cá nhân. Người sử dụng máy tính cá nhân sẽ được thưởng thức các sản phẩm có chất lượng âm thanh cao với các thiết bị giải trí kỹ thuật số có phần cứng lẫn phần mềm độc đáo và riêng biệt của Creative. Những ứng dụng và dịch vụ của Creative sẽ giúp cho khách hàng tận hưởng những trải nghiệm tuyệt vời nhất về thế giới digital cao cấp ở mọi lúc mọi nơi. Với mục tiêu là tạo ra sự hài hoà giữa hình thức sản phẩm và chức năng, Creative đang nỗ lực cung cấp tất cả các sản phẩm giúp quý khách có những cảm giác hoàn hảo nhất bằng cả thị giác và thính giác.






37tdn1





Hiện nay, Creative có các chủng loại sản phẩm bao gồm: Card âm thanh, Máy nghe nhạc, Loa, Tai nghe, Webcam…





Mỗi khi đến với Creative Showroom, khách hàng sẽ thường xuyên có cơ hội nhận được những sản phẩm chất lượng cao với giá thành hấp dẫn của Creative nhờ những chương trình khuyến mại được tổ chức thường xuyên của Tân Quang.





Để biết thêm chi tiết, khách hàng có thể truy cập vào website: www.tanquang.vn hoặc vn.creative.com





Nhà phân phối và bảo hành chính thức của Creative tại miền Bắc: Công ty Cổ phần truyền thông đa phương tiện Tân Quang. Địa chỉ: 106 Trấn Vũ, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 04.3 715 1566; Email: info@tanquang.vn

Xem đầy đủ bài viết tại http://blog.sannhac.com/2009/05/29/showroom-creative-d%e1%ba%a7u-tien-t%e1%ba%a1i-vi%e1%bb%87t-nam/

Sau Ngày Hội Sách

Chiều qua, buổi NGÀY HỘI SÁCH FPT đã diễn ra khá thành công, theo như anh Hùng - Giám Đốc Thái Hà Books vừa mail cho BTC thì đây là buổi: "thành công bất ngờ, hơn cả mong đợi và là chương trình tốt nhất trong 4 chương trình mình đến nói chuyện với FPT".
Trên Website của Thái Hà books cũng chia sẻ thông tin này.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3849

Các sản phẩm của Google

Google hiện nay đã phát triển nhiều dịch vụ và công cụ cho cộng đồng chung cũng như trong lĩnh vực kinh doanh, bao gồm các ứng dụng Web, mạng lưới Quảng cáo và giải pháp kinh doanh.

Quảng cáo

Phần lớn thu nhập của Google đến từ các chương trình Quảng cáo trực tuyến. Google AdWords cho phép các đối tượng có nhu cầu Quảng cáo đăng Quảng cáo của mình trên kết quả tìm kiếm của Google và trên Google Content Network qua phương thức cost-per-click (trả tiền qua số lần click vào Quảng cáo) hoặc cost-per-view (trả tiền qua số lần xem Quảng cáo). Chủ các trang web Google AdSense
cũng có thể hiển thị quảng cáo trên trang của họ và kiếm tiển mỗi lần banner quảng cáo được Click.

Ứng dụng

Google nổi tiếng bởi dịch vụ Tìm kiếm của nó, nhân tố chính dẫn đến thành công của Google. Vào tháng 12 năm 2006, Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên mạng chiếm 50,8% thị phần, vượt xa so với Yahoo (23,6 %) và Window Live Search (8,4%). Google liên kết với hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và các toán tử. Google cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm Image Search (tìm kiếm ảnh), Google News, trang web so sánh giá cả Product Search, cộng đồng tương tác Google Groups, Google Maps và còn nhiều nữa.

Năm 2004, Google ra mắt dịch vụ email trên nền web, gọi là Gmail. Gmail hỗ trợ công nghệ lọc thư rác và khả năng sử dụng Công nghệ tìm kiếm của Google để tìm kiếm thư. Dịch vụ này tạo ra thu nhập bằng cách hiển thị quảng cáo từ dịch vụ AdWords mà phù hợp với nội dung của email hiển thị trên màn hình.

Đầu năm 2006, Google ra mắt dịch vụ Google Video, dịch vụ không chỉ cho phép người dùng tìm kiếm và xem miễn phí các video có sẵn mà còn cho người sử dụng hay các nhà phát hành khả năng phát hành nội dung mà họ muốn, kể cả các chương trình truyền hình trên CBS, NBA và các video ca nhạc. Nhưng đến tháng 8 năm 2007 , Google đã ngừng phát triển trang web này nhằm tập trung nguồn lực vào trang chia sẻ video trực tuyến lớn nhất thế giới Youtube cũng thuộc sở hữu của công ty.

Google cũng đã phát triển một số ứng dụng nhỏ gọn, bao gồm cả Google Earth, một chương trình tương tác sử dụng ảnh vệ tinh. Ngoài ra công ty còn phát triển nhiều gói phần mềm văn phòng mã mở Google Docs nhằm cạnh tranh thị phần với Microsoft

Nhiều ứng dụng khác nữa có tại Google Labs, một bộ sưu tập những phần mềm chưa hoàn chỉnh. Chúng đang được thử nghiệm để có thể đưa ra sử dụng trong cộng đồng.

Google đã đẩy mạnh quảng bá sản phẩm của họ bằng nhiều cách khác nhau. Ở London, Google Space được cài đặt tại sân bay Healthrow, ra mắt nhiều sản phẩm mới, bao gồm Gmail, Google EarthPicasa. Ngoài ra, một trang web tương tự cũng được ra mắt cho sinh viên Mỹ dưới cái tên College Life, Powered by Google.

Năm 2007, một số bài báo đưa tin rằng Google đang có ý định cho ra đời mẫu điện thoại của riêng họ, có thể là đối thủ cạnh tranh của chiếc điện thoại iPhone của Apple. Dự án này có thể là một cuộc cộng tác giữa Google với Orange, HTC hoặc Samsung hoặc một nhà sản suất khác. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về dự án này và phần lớn thông tin hiện có chỉ là sự suy đoán, thực tế hiện nay Google vẫn chỉ là phát triển dự án HĐH mã nguồn mở Android dành cho các thiết bị điện thoại di động,.....

Vào ngày 2 tháng 9 năm 2008, Google đã thông báo sự xuất hiện của Google Chrome, một trình duyệt mã nguồn mở. Trình duyệt này được giới phân tích đánh giá sẽ là đối thủ cạnh tranh thị phần của Internet Explorer và Firefox.Cũng vào khoảng thời gian này Google Translate đã bổ sung thêm tiếng Việt trong dịch vụ dịch tự động của mình và tích hợp ngay trong công cụ tìm kiếm,giúp người sử dụng nhanh chóng hiểu được cơ bản nội dung trang web trình bày bằng tiếng nước ngoài.

Năm 2007, Google giới thiệu Google Apps Premium Edition, một phần mềm phù hợp cho việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ email, tin nhắn, lịch…như một chương trình bảng tính. Sản phẩm này chủ yếu nhắm tới người sử dụng là doanh nhân, dùng để cạnh tranh trực tiếp với bộ phần mềm Microsoft Office, với giá chỉ 50USD một năm cho một người sử dụng, so với giá 500USD cho môt người sử dụng của Microsoft Office. Google có một số lượng lớn người sử dụng Google App với 38.000 người ở Đại học Lakehead tại Thunder Bay, Ontario, Canada.

Cũng vào năm 2007, Google đã mua lại công ty Postini và sẽ tiếp tục phát triển công nghệ mà họ mua được từ công ty này và đặt tên là Google Security Services.

Liên kết tới các dịch vụ sản phẩm của Google

Dịch vụ


Công cụ


Chương trình

  • Adwords: chương trình quảng cáo, có phần tiếng Việt

Sản phẩm

(Theo Wikipedia)

Lịch sử và sự phát triển của Google

Lịch sử "đầy thú vị" của Google
Đầu tiên (1996) Google là một công trình nghiên cứu của Larry PageSergey Brin, hai nghiên cứu sinh tại trường Đại học Stanford. Họ có giả thuyết cho rằng một công cụ tìm kiếm dựa vào phân tích các liên hệ giữa các website sẽ đem lại kết quả tốt hơn cách đang được hiện hành lúc bấy giờ (1996). Đầu tiên nó được gọi là BackRub (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang.

Page và Brin tin rằng những trang có nhiều liên kết đến nhất từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ (http://www.google.com). Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công ty Google, Inc. ngày 7 tháng 9 năm 1998 tại một gara của nhà một người bạn tại Menlo Park, California. Trong tháng 2 năm 1999, trụ sở dọn đến Palo Alto, là thành phố có nhiều trụ sở công ty công nghệ khác. Sau khi đổi chỗ hai lần nữa vì công ty quá lớn, trụ sở nay được đặt tại Mountain View, California tại địa chỉ 1600 Amphitheater Parkway vào năm 2003.

Cổng trụ sở Google tại Mountain View, California

Công cụ tìm kiếm Google được nhiều người ủng hộ và sử dụng vì nó có một cách trình bày gọn và đơn giản cũng như đem lại kết quả thích hợp và nâng cao. Trong năm 2000, Google đã bắt đầu bán quảng cáo bằng từ khóa để đem lại kết quả thích hợp hơn cho người dùng. Những quảng cáo này chỉ dùng văn chứ không dùng hình để giữ chất đơn giản của trang và tránh sự lộn xộn và đồng thời để trang được hiển thị nhanh hơn.

Google nhận được bằng sáng chế cho kỹ thuật sắp xếp trang web PageRank ngày 4 tháng 9 năm 2001. Bằng đưa quyền cho Đại học Stanford và liệt kê Larry Page là người sáng chế.

Trong tháng 2 năm 2003 Google mua được Pyra Labs, công ty chủ của Blogger, một trong những website xuất bản weblog lớn nhất.

Đầu năm 2004, khi Google ở tột đỉnh, Google đã xử lý trên 80% số lượng tìm kiếm trên Internet qua website của họ và các website của khách hàng như Yahoo!, AOL, và CNN. Sau khi Yahoo! bỏ Google để dùng kỹ thuật họ tự sáng chế vào tháng 2 năm 2004, số này đã bị tuột xuống.

Phương châm của Google là "Không làm ác" (Don't be evil). Biểu trưng của họ có khi được sửa đổi một cách dí dỏm vào dịp những ngày đặc biệt như ngày lễ hay sinh nhật của một nhân vật quan trọng. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt và một số ngôn ngữ dí dỏm như tiếng Klingon và tiếng Leet. Vào ngày Cá tháng tư (tiếng Pháp: poisson d'avril, tiếng Anh: April Fool's Day) Google thường tung ra nhiều tin hài hước về công ty.

Phát hành cổ phiếu lần đầu

Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan Stanley và Goldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Giá thị trường của Google đến nay là trên 100 tỷ đô la và vẫn tiếp tục tăng cao.

Phát triển ra nhiều lĩnh vực khác

Khi thị trường ban đầu của công ty là trên thị trường web, Google đã bắt đầu thử nghiệm ở một số thị trường khác, ví dụ như Phát thanh hoặc Xuất bản. Ngày 17-1-2006, Google công bố rằng công ty đã mua lại công ty quảng cáo phát thanh dMarc, công ty đã sử dụng một hệ thống tự động, cho phép các công ty quảng cáo trên radio. Điều này sẽ giúp Google kết hợp 2 kênh quảng cáo truyền thông là Internet và Radio, với khả năng của Google, nhắm thẳng vào tâm lý khách hàng. Google cũng bắt đầu thử nghiệm bán quảng cáo trên các kênh quảng cáo offline của công ty, như trên báo và tạp chí, với các quảng cáo được lựa chon trên Chicago-Sun Times. Họ đã lấp được một chỗ trống không bán được trên tờ báo mà trước đấy thường được dùng vào việc quảng cáo nhà.

Google được đưa vào danh sách 500 S&P index ngày 30 tháng 3 năm 2006, chiếm vị trí của Burlington Resources, một nhà sản xuất dầu chính ở Houston.

Các thương vụ mua bán thông minh

Từ năm 2001, Google đã mua được nhiều công ty nhỏ mới thành lập, thường là công ty có nhiều sản phẩm và đội ngũ nhân viên tốt. Một trong những công ty mà Google mua lại sớm nhất là Pyra Labs, khi trào lưu blog mới bắt đầu manh nha phát triển bên Mỹ. Họ chính là những người sáng tạo ra Blogger, một nền tảng của việc xuất bản weblog, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1999. Pyra Labs ban đầu được lập ra bởi Evan Williams, khi anh này rời Google vào năm 2004. Đầu năm 2006, Google mua lại Upstartle, một công ty chịu trách nhiệm xử lý từ ngữ trên mạng, Writely. Công nghệ của sản phẩm này rốt cuộc đã được Google sử dụng để tạo ra Google Docs & Spreadsheets, ứng dụng văn phòng trực tuyến miễn phí phổ biến nhất hiện nay.

Tháng 2 năm 2006, công ty phần mềm Adaptive Path bán Measure Map, một ứng dụng thống kê weblog cho Google.

Cuối năm 2006, Google đã thực hiện thương vụ "shopping" đình đám nhất bấy giờ là mua lại trang web chia sẻ video trực tuyến lớn nhất thế giới YouTube với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phần. Không lâu sau, 31 tháng 10 năm 2006, Google công bố họ đã mua lại Jotspot, một nhà phát triển của công nghệ wiki cho các website cộng đồng.

Thương vụ "shopping" đình đám nhất năm 2006 của Google

Ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đạt được thỏa thuận mua lại DoubleClick, công ty đứng đầu trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến. Google đã đồng ý mua lại công ty này với giá 3,2 tỷ USD. "Chính thức" thâu tóm gần như hoàn toàn thị trường quảng cáo trực tuyến, bất chấp nhiều ý kiến lo ngại về sự độc quyền và thống trị của Google trong lĩnh vực này.

Cộng tác với chính phủ và các công ty lớn

Năm 2005, Google gia nhập hiệp hội với các công ty và tổ chức chính phủ khác để phát triển phần mềm và dịch vụ. Google công bố mối cộng tác với NASA Ames Reseach Center, xây dựng đến 1 triệu phòng chuyên trách và làm việc trong đề án nghiên cứu bao gồm Quản lý dữ liệu trên diện rộng, công nghệ nano, sắp xếp công việc sử dụng máy tính… Google cũng tham gia cộng tác với Sun Microsystem để chia sẻ và phân loại các công nghệ của nhau. Công ty cũng tham gia cộng tác với American Online của Time Warner để cải tiến dịch vụ video trực tuyến.

Năm 2007, Google và New Corp.’s Fox Interactive Media tham gia vào bản hợp đồng trị giá 900 triệu USD để phục vụ tìm kiếm vào quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng, Myspace.


(Trích Wikipedia)

Giới thiệu Google

đại bản doanh Googleplex của GoogleGiao diện Google năm 1998

Google
là một công ty Internet tầm cỡ thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1998. Google được sáng lập bởi 2 "người bạn thân tài năng" Larry Page và Sergey Brin. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet. Trụ sở của Google tên là "Googleplex" tại Mountain View, California. Google có trên 15.000 nhân viên, giám đốc kinh doanh là Tiến sĩ Eric Schmidt, trước đây là giám đốc công ty Novell, còn 2 thành viên sáng lập giữ 2 chức vụ quan trọng bậc nhất khác là Giám Đốc Kỹ Thuật (Sergey Brin) và giám đốc sản phẩm (Larry Page). Tên "Google" là một xuất phát từ một sai lầm thú vị của Larry Page từ chữ googol, bằng 10100, nhưng Larry lại viết lộn thành Google. Sau này, tuy được một người bạn phát hiện được chỗ sai, nhưng Larry đã không sửa lại, Larry đã nói: "Miễn sao người ta nhớ tới tên Google là được". Và chính "sai lầm thú vị không chịu sửa" này của Larry đã phát triển thành một Google hùng mạnh ngày nay. Larry chọn tên Google (hay googol) để thể hiện sứ mệnh của công ty để sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Googleplex, tên của trụ sở Google, cũng có nghĩa là 10googol.

đại bản doanh Googleplex của GoogleĐại bản doanh Googleplex của Google

(Trích Wikipedia)

Đầu dùng để làm gì?

Hôm nay vừa đi học buổi 2 - môn "Thành công học" do anh Bảo DC dạy. Có 1 câu chuyện khá thú vị liên quan tới câu hỏi: Đầu dùng để làm gì?

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3847

Tuesday, May 26, 2009

FLI Wheel số 10 - T5/2009

FLI Wheel số 10 vừa ra mắt. Đăng ký nhận báo với Vân NTB (bản cứng và bản mềm).

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3843

Bạn biết gì về các trận chung kết Champion League và trận đấu giữa M.U-Barcelona đêm nay?

barcamu



  • Trận chung kết tối nay giữa Manchester United và Barcelona là trận chung kết thứ 54 kể từ mùa bóng 1955-1956. Trong 54 lần chung kết, MU đã xuất hiện 4 lần và Barca đã xuất hiện 5 lần. Trận chung kết năm nay sẽ là trận chung kết cuối cùng được tổ chức vào ngày thứ tư vì bắt đầu kể từ sang năm, chung kết C1 sẽ được tổ chức vào ngày thứ 7.

  • M.U đã từng thắng tất cả 3 trận chung kết mà đội bóng này tham gia trước đây (vào năm 1968, 1999 và 2008). Trong khi đó, 4 lần xuất hiện trước (ko kể lần này) thì Barca đã thắng 2 trận vào năm 1992 và 2006 và thua vào các năm 1961 và 1994.

  • Barca cũng đã từng vô địch các Cup C2 4 lần và Cup C3 3 lần, trong khi đó M.U chỉ vô địch cúp C2 có 1 lần và chưa từng vô địch Cup C3.

  • Đây là lần thứ 5 liên tiếp một đội bóng của Anh xuất hiện trong trận chung kết. Liverpool vô địch năm 2005, Arsenal và Liverpool cùng thua năm 2006 và 2007. Trong trận chung kết toàn Anh năm 2008 giữa M.U và Chealsea năm ngoái, M.U là nhà vô địch

  • Nếu bảo vệ chức vô địch thành công vào năm nay, M.U sẽ là đội bóng đầu tiên vô địch 2 năm liền liên tiếp Champions League (kể từ mùa giải 1992-1993 sau khi thay đổi hệ thống giải đấu). Trước đây với hệ thống C1,C2,C3, AC Milan đã bảo vệ thành công chức vô địch trong hai mùa liên tiếp (1989, 1990).

  • Tính tới trận đấu này, M.U đã có 25 trận Champions League bất bại, một kỷ lục đáng tự hào. Trận thua gần đây nhất của M.U là trận thua AC Milan ở bán kết 2007.

  • Rome đã tổ chức trận chung kết Champions League  3 lần vào các năm 1977, 1984 và 1996. Điềm tốt cho M.U là trong hai lần trước thì các đội bóng ở Anh thi đấu tại Rome đều giành được chiến thắng (Liverpool)

  • Sân vận động cũ tại London (sân Wembley) là nơi tổ chức nhiều trận chung kết nhất (1963,1968,1971,1978,1992). Tại Paris cũng đã tổ chức 5 lần nhưng tại các sân cỏ khác nhau. Wembley sẽ tiếp tục tổ chức trận chung kết vào năm 2011.

  • Nếu M.U thắng đêm nay thì Sir Alex sẽ sánh vai cùng Bob Paisley (Liverpool, 1977,1978,1981) trở thành HLV thứ hai vô địch châu Âu 3 lần. Sir Alex đã có Cup Châu Âu lần đầu tiên với Aberdeen (Scotland) vào năm 1983.

  • Sir Alex hiện đang là HLV già thứ hai đã vô địch Cup Châu Âu vào năm ngoái (66 tuổi). HLV già nhất là HLV người Bỉ Raymond Goethals đã vô địch cùng Marseille năm 1993 khi ông 71 tuổi.

  • Nếu Barca thắng, Pep sẽ trở thành HLV trẻ nhất trong 49 năm trở lại đây (38 tuổi 129 ngày) đoạt Cup và là người trẻ thứ 3 trong toàn bộ lịch sử Cup vô địch châu Âu. Miguel Munoz đã vô địch cùng Real Maldrid vào năm 1960 khi ông mới chỉ có 38 tuổi (121 ngày). Tuy vậy, một huấn luyện viên khác cũng dẫn dắt Real vô địch năm 1956, Jose Villalonga mới là HLV trẻ nhất khi ông này vô địch lúc 36 tuổi (185 ngày).

  • Nếu vô địch đêm nay, Pep Guardiola sẽ trở thành người thứ 6 vô địch Cup Châu Âu với tư cách là cầu thủ và HLV và sẽ trở thành người thứ 3 vô địch với cùng một câu lạc bộ sau Munoz (Real Maldrid) và Ancelotti (AC Milan).

  • Guardiola đã từng tham dự Champions League với một CLB khác Barca. Đó là 44 phút trong trận đấu AS Roma - Real Madrid (0-3). Tất nhiên, Pep không thể đá với tư cách là cầu thủ Real được.

  • Với tư cách là cầu thủ Arsenal, Thierry Henry đã ghi hat-trick đầu tiên tại Champions League chính tại sân Olympic (Roma) trong trận đấu Arsenal thắng Roma với tỷ số 3-1.

  • Thủ môn Edwin van der Sar đã được bầu chọn làm cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu năm ngoái và tiền vệ thủ Owen Hargreaves là một trong 12 cầu thủ đã từng vô địch Cup châu Âu với 2 CLB khác nhau. Van der Sar cũng đã vô địch với Ajax vào năm 1995 và với M.U vào năm ngoái.

  • Năm 2002, Dimitar Berbatov đã đá trong màu áo của Bayer Leverkusen và đã thua Real Madrid trong trận chung kết. Patrice Evra cũng đã từng thua Porto trong màu á của Monaco năm 2004.

  • Thiery Henry và Alexander Hleb đều đã từng đá trong trận chung kết năm 2006 dưới màu áo Arsenal và đã thua chính … Barcelona vào năm đó.




Xem đầy đủ bài viết tại http://feedproxy.google.com/~r/Baomoi/~3/dpJA7RsEdiI/

FLI Club 29/5/2009: Kể chuyện về Bác

Chia sẻ của anh Thành Nam về Bác Hồ.

Thời gian: 17h30 - T6 29/5/2009
Địa điểm: FSoft House - D15 Làng Quốc tế Thăng Long.

Mời đăng ký tham dự với BTC.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3839

Agenda Ngày hội sách [Thông báo #02]

Hiện nay số người đăng ký đã là 58 người, đặc biệt có nhiefu anh chị không phải FPTer nhưng rất muốn đến tham gia NGÀY HỘI SÁCH.
BTC xin gửi tới anh chị thông báo số 02.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3838

Ai là người có thể gấp một tờ báo lại nhỏ hơn chiếc điện thoại di động?


(ảnh của Bob.Fornal - Under Creative Common License)


Đó là một câu đố khá khó và tôi nghĩ sẽ có khá nhiều người nghĩ rằng phải có cơ bắp cỡ anh Lý Đức hay anh Phạm Văn Mách mới có thể làm được việc này. Blog Baomoi với sự đồng ý của diễn đàn vn-Zoom đã tổ chức cuộc thi gấp báo với giải thưởng là một account RapidShare trong vòng 6 tháng. Cuộc thi đã nhận được khá nhiều phản hồi, tuy vậy cho đến giờ này, vẫn chưa có ai có khả năng gấp một tờ báo lại nhỏ hơn chiếc điện thoại di động theo đúng tiêu chí của cuộc thi. Giải khuyến khích (account RapidShare 3 tháng) đã được trao cho bạn Nguyễn Quốc Bảo, một bạn trai “không đô con” như Lý Đức hay Phạm Văn Mách nhưng đã đưa ra được giải pháp gần nhất với tiêu chí của cuộc thi.


3503754670_ca06754ac5_b


(Bảo là người bên phải, mặc áo nâu)


Dưới đây là 3 câu hỏi ngắn phỏng vấn Bảo (@nqbao) sau khi nhận giải thưởng :


1.Bảo có thể cho mọi người biết qua thông tin ngắn gọn về em không?


Fullname là Nguyễn Quốc Bảo. Đang là SV năm cuối của trường KHTN. Em có đi làm mà giờ thì đang nghỉ kiếm chỗ tốt hơn :”>.

Sở thích: nghe nhạc, xem phim, comic, game, lướt web


2.Vai trò của mobile trong cuộc sống của em như thế nào?


Gần như là không-thể-rời-xa. Lúc nào cái điện thoại cũng ở trong tầm mắt của em. Em dùng đt phục vụ cho liên lạc, nghe nhạc, chơi game, ghi chú, nhắc nhở, báo thức. Sau này thì có thêm lướt web, check mail, nhưng mà mạng GPRS chậm quá #_#


3.Nếu có một ứng dụng đọc báo trên mobile, em có sử dụng nó không và em mong chờ điều gì ở nó.


Hiện tại em đã dùng một cái tương tự là Google Reader, nhưng mà nó là web-version. Nếu có thì mong chờ nhất là nó không quá lệ thuộc vào cái trình duyệt, có thể xem offline đc ( ko cần lưu toàn bộ, chỉ cần lưu ~ tin muốn xem offline), có thể sắp xếp, phân loại các nguồn tin, cá nhân hóa các nguồn tin như là auto-tag, filter và cuối cùng nếu đc thì có thêm 1 vài chức năng social nữa :”> Thật ra chạy cho nhanh là được rồi :”>


Cám ơn Bảo nhiều!


P/S : giải thưởng account RapidShare 6 tháng chúng tôi vẫn bảo lưu, hãy liên lạc với chúng tôi ngay khi bạn có thể chứng minh rằng bạn có cách gấp một tờ báo lại nhỏ hơn chiếc điện thoại di động của mình nhé.




Xem đầy đủ bài viết tại http://feedproxy.google.com/~r/Baomoi/~3/wWD3mFdTA2c/

Monday, May 25, 2009

Thành công học , một vài con số

Một vài con số từ buổi học "Thành công học" của anh Đỗ Cao Bảo - 23/5/09 với các CBQL L4,5 của FIS

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3833

Thế hệ doanh nhân mới - Doanh nhân 3.0

Cuối tháng 3, FLI club có buổi giao lưu với anh Giản Tư Trung - CT HDQT PACE với chủ đề: “Chinh phục những giấc mơ”. Buổi giao lưu đã nhận được sự quan tâm của rất leader và manager FPT đến và gửi câu hỏi.
Xin đăng lại đầy đủ bài viết của anh Giản Tư Trung về thế hệ doanh nhân 3.0 và những câu trả lời của anh với người FPT

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3832

Sunday, May 24, 2009

Cuộc cách mạng đóng góp (P3/3)

Rất nhiều các tên tuổi lớn đã ứng dụng thành công cuộc cách mạng đóng góp của người sử dụng vào công việc kinh doanh của mình như Honda, Bestbuy, Unilever ...
Hãy cùng xem họ đã làm như thế nào ...

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3831

10 bí quyết thành công học từ người Hàn Quốc

10 bí quyết hàng đầu cho những thành công trong sự nghiệp, được các chuyên gia tư vấn việc làm của trang tuyển dụng trực tuyến Incruit (Hàn Quốc) tổng kết từ những những nhân vật chuyên nghiệp và nổi trội nhất.

Xem đầy đủ bài viết tại http://www.fpt20.com/fli/blog_detail.asp?id=3829

Saturday, May 23, 2009

E-Metrics - nhân tố sống còn trong Thương mại Điện tử

Đã có rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích sự suy sụp của phong trào dotcom, mô phỏng theo những phân tích tài chính của các mô hình kinh tế, hay theo kiểu đầu tư càng mạo hiểm thì lợi nhuận càng cao.

Kiểu giải thích chung chung, cũ rích như vậy của các nhà kinh tế không chỉ ra được nguyên nhân và tác động thực sự của vấn đề. Trong khi trên thực tế, những dự án kinh doanh quá đơn sơ mới chính là nguyên nhân gây nên sự thất bại của các công ty đầy tham vọng.

Một hệ thống phân tích dữ liệu trên mạng là một yếu tố không thể thiếu đối với bất cứ một doanh nghiệp thông tin nào.

Nhiều công ty dotcom thành công như Yahoo, Amazon và Ebay, đang tiếp tục kinh doanh, vẫn với phương châm "Cứ đầu tư, sẽ có khách hàng" của họ.

Cũng làm theo chiến lược "Cứ đầu tư..." tương tự, tạI sao một số công ty lại thất bại, còn một số khác thì thành công? Về thực chất, các công ty đã thất bại bởi họ không phát triển một hệ thống đo lường mới, theo bản chất cốt lõi của thương mại điện tử, và nó khác một cách căn bản so với kiểu phân tích dữ liệu tài chính truyền thống.

Chỉ có rất ít các công ty hiểu rằng Internet không chỉ đơn giản là một "kênh" kinh doanh; mà nó phải được coi là một họat động kinh doanh độc lập. Và những lĩnh vực kinh doanh không truyền thống như vậy đòi hỏi phải được quản lý bằng một hệ thống đo lường hoàn tòan mới. Trong bài viết này, tôi không định đưa ra các công cụ đo lường cho ngành thương mại điện tử, tôi cũng không đưa ra "bí quyết" cho cuộc cạnh tranh trên Internet.

Tôi sẽ trình bày về một nền tảng cơ sở để tạo ra phương pháp đo lường, phân tích, đánh giá phù hợp nhất đối vớI các hoạt động kinh doanh trên mạng, và làm thế nào để thể hiện các phương pháp đó dưới dạng dễ hiểu, dễ thựchành nhất. Và sau chót, nền tảng này sẽ mang lại cho bạn những lợi ích sau:

* Phát hiện nhanh chóng những vấn đề trên trang web.
* Hiểu được các nhân tố cơ bản trên site.
* Hiểu mối quan hệ giữa đơn vị sản phẩm, doanh thu và lợi nhuận, đồng thời hiểu cách để điều chuyển các nhân tố này.

Phương pháp đo lường truyền thống và trên mạng

Phương pháp đo lường truyền thống theo lỗ và lãi (P&L) không thể tạo nên được một bức tranh hoàn chỉnh về hành vi của khách hàng. Những phương pháp đánh giá như vậy chỉ dựa vào các giao dịch đã thực hiện, được tổng hợp tại thời điểm diễn ra mua bán.

Ngược lại, các phương pháp cho thương mại điện tử (từ đây sẽ được gọi là e-metrics - hay các phương pháp đo lường, phân tích các dữ liệu thu thập từ mạng) tạo ra cơ hội để đánh giá tất cả những gì liên quan đến hành vi của khách hàng trước khi họ chính thức mua hàng.

Sự hấp dẫn của các dữ liệu trên mạng chính là nó có thể lưu giữ được từng động tác click chuột, từng hình ảnh khách hàng đã xem. Các dữ liệu này sẽ tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về các hành vi dẫn đến việc mua hàng của khách hàng (hay quan trọng hơn, những hành vi dẫn đến việc không mua hàng).

Trong thời kỳ bùng nổ dotcom, một vài từ lóng của emetrics đã trở thành thuật ngữ phân tích: page leakage (trang làm "mất khách"), sự phản đối, tính hấp dẫn, tốc độ, sự hủy bỏ giỏ hàng, độ hội tụ,... và có lẽ điều hấp dẫn nhất trong các nhân tố trên chính là hướng phân tích (khả năng tìm thấy "yếu tố quyết định dẫn đến việc mua hàng").

Những khái niệm trên rất thú vị và mới mẻ, nhưng chúng nặng về tính lý thuyết hàn lâm bởi chúng dựa trên một chuỗi các câu chuyện giả tưởng.

Để có một quyết định khả thi, phương pháp hiệu quả nhất là trung gian giữa phương pháp đo đếm P&L (vốn khá mơ hồ và khó tích hợp hòan chỉnh) và phương pháp hàn lâm mà tôi đã miêu tả (phương pháp này khá thú vị nhưng không phải dễ kích hoạt).

Holy Grail là một tập hợp các e-metrics có thể kích hoạt và định lượng, trong đó ghi nhận các kiểu hành vi và liên kết chúng với các chỉ số kinh doanh quan trọng như số hàng tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận.

Trên lý tưởng, các dữ liệu như vậy phải được phục vụ cho cả việc quản lý và nghiên cứu phát triển, và việc ứng dụng công cụ báo cáo linh hoạt phải phù hợp với cả các những chuyên viên kỹ thuật lẫn những người không chuyên. Việc quản lý tòan bộ quá trình này đòi hỏi phải là một nhân viên thực sự giàu kinh nghiệm, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng.

Điểm khởi đầu

Những câu hỏi mà chúng ta muốn biết về khách hàng trên web rất đa dạng. Bước đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống công cụ phân tích hòan chỉnh, trong đó liệt kê các dạng phân tích cần tiến hành. Mỗi dạng phân tích phảI riêng biệt, hầu hết các câu hỏi sẽ được hình thành trong ma trận two-by-two (xem hình 1). Tôi sẽ giải thích mỗI phần của ma trận một cách chi tiết hơn.

E-metrics về chất lượng

Những phương pháp đo lường lưu lượng (trên mạng) cơ bản này thường được thực hiện trong ngắn hạn và đòi hỏI độ tích hợp thấp. Chúng chỉ dựa vào các dữ liệu về hành vi trên mạng và tập hợp vào một hệ thống dữ liệu có sẵn. Yêu cầu tối thiểu là các dữ liệu này phải được tập hợp theo tuần, nhưng khi cần thiết cũng phải thu thập được ngay khi dự án kinh doanh cần đến. Những ví dụ cụ thể là:

Lưu lượng (traffic) giữa các trang và từng nhóm trang: những dữ liệu sơ bộ về lưu lượng luân chuyển giữa các trang web được biểu hiện bằng số clicks, số lượt truy nhập, số người truy nhập...

Tỷ lệ % để mất khách hàng (Page leakage percentage): đây là tỷ lệ % số người truy cập đến một trang web và dừng lại tại đó, không tiếp tục xem sang các trang được link khác, trên tổng số người truy cập vào trang web đó.

Từ tỷ lệ này, bạn có thể nhận biết được mức độ hấp dẫn, hiệu quả trong thiết kế website của mình, thay cho những nhận xét mang tính cảm nhận trước đây. Ngoài ra, mỗi lần có sự thay đổi trên website, việc so sánh tỷ lệ này sẽ giúp bạn đưa ra đánh giá thích hợp nhất.

Click tiếp theo (next click): đây là một yếu tố quan trọng trong phân tích, đánh giá xem trang nào thường xuyên được xem tiếp từ một hay một nhóm trang web nhất định. (khi xem xét thông số này, bạn nên xét trong một nhóm nhỏ các trang, vì nhiều khi kết quả số trang được liệt kê phụ thuộc vào cách thiết kế web).

Thiết kế web có ảnh hưởng rất lớn đến next click, đặc biệt khi ta tiến hành thu thập dữ liệu từ một trang chủ có chứa nhiều đường link. Quan trọng hơn, thông số này giúp bạn đo lường được một trong những vấn đề hóc búa nhất trong thiết kế Web: giá trị bất động sản của trang web.

Click trước đó (Previous click): tương tự như Next click, việc lấy số liệu về previous click sẽ cho ta biết những trang web nào là đường dẫn thường xuyên nhất đến một trang web hay nhóm trang nhất định.

Mô hình định hướng và giá trị bất động sản của một trang là những vấn đề cốt lõi trong phương pháp đo lường này. Những tên miền và URL ghi lại được sẽ rất có ích, đặc biệt khi trình bày dưới dạng minh họa cho một ảnh hưởng nào đó.

Việc ghi lại các đo lường điện tử về chất lượng một cách tự động, đầy đủ và đều đặn rất quan trọng. I't nhất, ngườI quản trị cũng nên duy trì những báo cáo e-metrics thường xuyên.

E-metrics theo dự án

Mặc dù chỉ dựa vào dữ liệu điện tử, các cách đo lường này được xây dựng cho mục tiêu dài hạn hơn, dài hạn ở đây có nghĩa là những phân tích này nhằm vào mục đích phát triển những ứng dụng trên mạng, bằng việc đo lường những thay đổi kỹ thuật.

Kiểu e-metrics này được tạo ra để thúc đẩy quá trình giao dịch trên mạng bằng cách đo lường các biến đổi từng giai đoạn, từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ, nếu một giám đốc dự án muốn cải thiện một phần của trang web, nhà tư vấn phân tích Web sẽ cùng với vị giám đốc dự án tạo ra một hệ thống đo lường xung quanh các trang đặc biệt và cần được cải tiến.

Hệ thống này có thể bao gồm việc đo lường tần suất truy cập, hoặc nếu nhóm trang web có tính hệ thống và theo một trình tự (chẳng hạn như quá trình đăng ký hay ứng dụng), các phương pháp đo lường có thể bao gồm những kết quả chi tiết kiểu bậc thang.

Kiểu báo cáo này có giá trị rất quan trọng trong việc phân tích tác động của doanh thu hình phễu, hay tỷ lệ số khách hàng trong một giai đoạn này với số khách hàng trong một giai đoạn khác của một quá trình bán hàng. Chẳng hạn như nếu một giám đốc dự án muốn thu hút được nhiều khách hàng trên mạng để giảm cuộc gọi đến trung tâm dịch vụ khách hàng.

Nhà tư vấn phân tích Web sẽ tạo ra một cách đo lường trọn gói để nhà quản lý dự án phải thực hiện để biết xem có bao nhiêu khách hàng đã sử dụng ứng dụng mới trên trang web của ông ta trên tổng số khách hàng đã liên hệ (cả qua web và điện thoại).

Khi dự án hoàn thành và sự cải tiến trong kinh doanh được ghi vào sổ kế tóan, những dữ liệu này sẽ không cần phải ghi lại nữa, vì vậy đây được coi là phương pháp nhất thời.

Tuy nhiên, trong khi kiểu e-metrics này có thể không cần thiết đối với mô hình kinh doanh đều đều, nó lại rất quan trọng đối với các dự án để chứng minh giá trị thật sự của dự án và giảm bớt tổng chi phí.

Các e-metrics này về bản chất là các câu hỏi được đặt ra để tư vấn chi tiết cho các nhà kinh doanh, đặc biệt là trong các dự án. Khi đã biết được các câu hỏi, giám đốc dự án cần có các công cụ truy cập dữ liệu và báo cáo cần thiết để có thể lập các báo cáo theo từng mục tiêu sử dụng ngay khi cần thiết.

Mặc dù các phương pháp đo lường này thường nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các dự án kỹ thuật, các câu hỏI thường mang tính ngắn hạn, không còn giá trị khi dự án đã được thực hiện. Tuy nhiên, nếu sau quá trình thực thi, các đo lường này được đánh giá là cần thiết cho việc kinh doanh thì chúng sẽ được thực hiện đều đặn như là e-metrics cho chất lượng.

E-metrics theo chiều sâu

Đây là các e-metrics được áp dụng trong ngắn hạn và đòi hỏi nhiều công sức tích hợp. Chúng có tính tùy biến 100% và vì vậy là đây là một cách đo lường tốn nhiều thời gian nhất, bởi chúng được xây dựng nhằm đáp ứng rất nhiều các tra vấn khác nhau.

Những tra vấn này có thể bao gồm các phân tích nguyên nhân gốc rễ, kiểm tra giả thiết, nghiên cứu khoảng cách an tòan, phân tích nhóm khách hàng, phân tích giỏ hàng, phân tích chuỗi và kết hợp, và còn nhiều ứng dụng khai thác dữ liệu khác.

Thực hiện e-metrics theo chiều sâu không dễ dàng chút nào, vì ít nhất 3 lý do sau:

* Phải có sự tích hợp giữa nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, và điều này trên thực tế là rất phức tạp.
* Việc thu thập dữ liệu rất phức tạp vì phương pháp này đòi hỏi phải có một số lượng lớn các loại dữ liệu để thực hiện theo các phân tích khác nhau.
* Phân tích thống kê thường là mục tiêu đầu tiên của phương pháp này, ...

Ít có công ty nào khẳng định rằng các dữ liệu về e-metrics, tài chính, khách hàng và hỗ trợ khách hàng của mình được lưu trữ trong một hệ thống cơ sở dữ liệu duy nhất. Thông thường các cơ sở dữ liệu thường chạy trên nhiều hệ thống khác nhau, và việc thu thập được dữ liệu như ý muốn là rất phức tạp (chẳng hạn như phải lấy dữ liệu từ một cơ sở dữ liệu nào đó và kết hợp với các trường khoá để lọc dữ liệu nhiều lần cho đến khi có bản báo cáo cuối cùng)

Chính vì vậy, e-metrics theo chiều sâu thường được sử dụng trong các dự án công nghệ. Bạn cần phải biết cân đối các yêu cầu sao cho kết quả phân tích đạt được hiệu quả cao trong một khung thời gian nhất định. E-metrics thường dẫn đến những thay đổi đáng kể trong kinh doanh bởi chúng có khả năng đo đếm được những nguyên nhân, ảnh hưởng vô hình mà trước đây đã bị bỏ qua.

Một ví dụ dưới đây sẽ trình bày những cơ hội đặc biệt với các khách hàng của bạn bằng việc phát triển một bản báo cáo về số lần mua hàng của một sản phẩm hay số hàng dự trữ, trên số lần truy cập vào sản phẩm đó, và sau đó vẽ đồ thị kết quả:

* Lượt truy cập ít / lượt trao đổi thành công thấp: chứng tỏ sản phẩm ít được quan tâm hay khách hàng khó tìm thấy sản phẩm này trên site. Nếu bạn thấy cách trình bày sản phẩm và hướng dẫn mua hàng đã rất rõ ràng, dễ hiểu thì chứng tỏ sản phẩm này không được khách ưa chuộng.
* Lượt truy cập thấp/lượt trao đổi thành công cao: chứng tỏ khi khách hàng truy cập vào đây, họ đã biết chắc mình muốn mua gì. Cần xem xét để đưa những mặt hàng đó vào danh sách những sản phẩm best-sellers.
* Lượt truy cập cao/lượt trao đổi cao: chứng tỏ sản phẩm rất được ưa chuộng, bán chạy. Không cần phải chi thêm chi phía quảng cáo, khuyến mãi nào cho sản phẩm này nữa.
* Lượt truy cập cao/lượt chuyển đổi thấp: Cơ hội của bạn rất nhiều. Cần tìm biện pháp xúc tiến bán hàng, đưa ra mức giá cạnh tranh hơn, tăng cường khuyến mãi để thúc đẩy doanh số.

Báo cáo tích hợp cao và tự động

Kiểu e-metrics này thường được thực hiện trong dài hạn và cần có sự tích hợp cao. Chúng có xuất phát từ e-metrics theo chiều sâu và từ kết quả của các báo cáo tích hợp khá phức tạp,

Để có được các dữ liệu báo cáo tự động và độ tích hợp cao đòi hỏi phải có sự nỗ lực của các nhà phân tích web, nhà quản lý kinh doanh và cơ sở hạ tầng IT cần thiết. Bởi những báo cáo dạng này tốn rất nhiều công sức tạo dựng được cơ sở dữ liệu phù hợp, nhằm mục tiêu trả lời được càng nhiều, càng nhanh các câu hỏi càng tốt.

Như tôi đã nói ở trên, việc báo cáo dữ liệu nên được điều hành và phát triển cùng nhau, đồng thời các công cụ lấy dữ liệu phải thật linh hoạt để có thể phù hợp với cả các chuyên gia kỹ thuật lẫn những người không chuyên.

Những công cụ thu thập dữ liệu linh hoạt như Excel Pivot Tables và quá trính phân tích thông tin trên mạng có thể cung cấp nhiều loại báo cáo có mức độ quan trọng khác nhau. Những công cụ này sẽ dễ dàng thu thập các báo cáo liên quan, để có tầm nhìn tổng quan trên một diện bao quat rộng, sau đó các dữ liệu phức tạp sẽ được tổng hợp trong một định dạng dễ hiểu về e-metrics chất lượng.

Với những nền tảng cơ sở về phân tích điện tử như vậy, bạn đã có được một phương pháp để đo lường tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, thông qua hành vi của khách hàng trên mạng.

Bản năng tồn tại

Một hệ thống nền tảng vững chắc về phân tích trên mạng sẽ tạo ra được các giải pháp phân tích chất lượng chính xác nhất đối với những vấn đề mà trước đây vẫn được coi là vô hình và không thể định lượng được, đó là đánh giá phân tích mức độ tích hợp và lưu lượng giao dịch trên mạng.

Tuy nhiên, việc tìm tòi và xây dựng hệ thống nền tảng chỉ là bước đầu tiên. Duy trì quá trình đó thông qua việc quản lý định lượng theo mô hình đào tạo, uỷ quyền và chuyển giao mới là điều chủ chốt để tăng hiệu quả đánh giá.

Khả năng đánh giá, đo lường điện tử hay còn gọi là emetrics là một điều cực kỳ quan trọng trong sự thành công của thương mại điện tử và nó quyết định sự thành bại của tất cả các công ty dot.com.

(Theo VnCompany)

Bí quyết thu hút khách hàng dành cho Website thương mại

Bạn vừa có một website của riêng mình! Bạn đã mất nhiều thời gian để viết nội dung cho website, bạn cũng đã đầu tư chi phí để thuê đội ngũ kỹ thuật web xây dựng website cho công ty bạn, và bạn có thể "thở phào" khi website của bạn đã được hòa nhập vào Internet với hàng tỷ website khác?

Bạn tin rằng từ đây, mọi người trên thế giới đều biết đến bạn? Xin thưa, bạn vui mừng hơi sớm đấy! Việc có một website trên Internet là một điều dễ dàng, cái khó là làm sao cho đối tượng khách hàng của bạn ở mọi nơi trên thế giới biết đến website của bạn, và cái khó hơn nữa là làm sao cho đối tượng khách hàng của bạn còn quay trở lại website của bạn lần 2, lần 3 và nhiều lần nữa?

Vì thế, bạn nên đọc và ghi nhớ một số "bí quyết" để thu hút và giữ chân người xem website của bạn. Thật ra, bí quyết này chỉ gói gọn trong 3 yếu tố: xây dựng cộng đồng, nội dung, phần thưởng.

Xây dựng cộng đồng: bạn nên dành chỗ trên website của bạn để làm “sân chơi” cho những người cùng yêu thích một lĩnh vực nào đó. Ví dụ: website của bạn về du lịch Việt Nam, thì bạn nên làm một diễn đàn (forum) trên web của mình để mọi người có thể đăng ý kiến, bài viết, hình ảnh về các chuyến du lịch Việt Nam của họ v.v...

Diễn đàn này rất có tác dụng trong việc giữ chân người xem và thu hút người mới. Những thành viên trong cộng đồng đã góp phần rất lớn vào việc quảng cáo cho website của bạn.

Nội dung: nội dung của các trang trên website của bạn có giá trị quyết định trong việc thu hút và giữ chân người xem. Hãy đặt mình vào vị trí đối tượng khách hàng của bạn để quyết định đăng tải những thông tin gì, hãy đặt câu hỏi “Họ muốn biết những gì?", "Những gì là bổ ích cho họ?" v.v… Nên chú ý tạo sự tiện lợi cho người xem khi xem các trang web của bạn. Sự tiện lợi quan trọng nhất là: làm sao trong thời gian ngắn nhất, người xem tìm được cái họ muốn xem.

Đăng tải nhiều thông tin quá cũng không tốt, người xem sẽ có cảm giác bị rối tung trong một mớ hỗn độn thông tin và sẽ nhanh chóng chán và rời khỏi website của bạn, mang theo ấn tượng không tốt về mức ðộ chuyên môn của website của bạn.

Cuối cùng, nhưng rất quan trọng, là việc cập nhật thông tin thường xuyên. Ðảm bảo với bạn là người xem sẽ rất bực mình và có ấn tượng không tốt nếu như thấy trang web họ đang đọc được cập nhật lần cuối cách đây vài nãm.

Phần thưởng: bạn có biết hiện có bao nhiêu trang web trên Internet không? Theo số liệu thống kê, có không dưới 8 tỉ trang web tồn tại trên Internet vào thời điểm tháng giêng nãm 2005. Nếu một người mỗi ngày đọc 100 trang web (nhiều đấy!) thì anh ta phải mất 50 năm mà chỉ đọc được chưa đầy 2 triệu trang web trong cuộc đời. Cho nên, người ta đọc có chọn lọc. Vì thế, bạn phải có những "chiêu thức" khiến người xem cảm thấy thích và có ích lợi khi đọc các trang web của bạn.

Hiện nay trên thế giới, rất nhiều website trả tiền cho người đọc, ví dụ, bạn vào xem trang web của họ, bạn sẽ được cộng điểm hoặc trả tiền (chỉ vài xu đô-la Mỹ), khi điểm của bạn nhiều, bạn có thể đổi đm lấy hàng hóa hay dịch vụ hay được giảm giá khi mua hàng, v.v… Chúng ta có thể không làm như thế, nhưng phần thưởng ở đây có nghĩa là những lợi ích dành cho người đọc web, ví dụ như cái để download (tải về) miễn phí, những dịch vụ ưu tiên hay quà khuyến mãi v.v… Có như thế bạn mới giữ chân được người xem.

Tóm lại, để thu hút và giữ chân người xem web, bạn phải mang lại cho họ lợi ích thật sự, những lợi ích đó có thể là tiền bạc, dịch vụ hay sản phẩm miễn phí, giá trị tinh thần, thông tin hữu ích v.v…

(Theo VietCERT)

Friday, May 22, 2009

Showroom Creative đầu tiên tại Việt Nam




Basic CMYK


Những ai yêu thích và muốn tìm hiểu các sản phẩm giải trí cho máy tính cá nhân và internet mang thương hiệu Creative từ nay có thể hoàn toàn yên tâm và thoải mái khi đến với showroom Creative trưng bày những sản phẩm chính hãng do Công ty Cổ phần truyền thông đa phương tiện Tân Quang phân phối và bảo hành.


Đây là Showroom Creative đầu tiên tại Việt Nam được khai trương vào ngày 15 tháng 1 năm 2009. Tại đây, với dịch vụ hoàn hảo và phòng thử âm thanh cao cấp, quý khách hàng có thể tìm hiểu thông tin về tất cả các sản phẩm của Creative và khám phá những công nghệ mới nhất của Creative.


Hiện nay, Creative đang được biết đến là một hãng dẫn đầu trên toàn cầu về các sản phẩm trong lĩnh vực âm thanh và thiết bị giải trí cá nhân. Người sử dụng máy tính cá nhân sẽ được thưởng thức các sản phẩm có chất lượng âm thanh cao với các thiết bị giải trí kỹ thuật số có phần cứng lẫn phần mềm độc đáo và riêng biệt của Creative. Những ứng dụng và dịch vụ của Creative sẽ giúp cho khách hàng tận hưởng những trải nghiệm tuyệt vời nhất về thế giới digital cao cấp ở mọi lúc mọi nơi. Với mục tiêu là tạo ra sự hài hoà giữa hình thức sản phẩm và chức năng, Creative đang nỗ lực cung cấp tất cả các sản phẩm giúp quý khách có những cảm giác hoàn hảo nhất bằng cả thị giác và thính giác.


Hiện nay, Creative có các chủng loại sản phẩm bao gồm: Card âm thanh, Máy nghe nhạc, Loa, Tai nghe, Webcam…


Mỗi khi đến với Creative Showroom, khách hàng sẽ thường xuyên có cơ hội nhận được những sản phẩm chất lượng cao với giá thành hấp dẫn của Creative nhờ những chương trình khuyến mại được tổ chức thường xuyên của Tân Quang.






37tdn1





Để biết thêm chi tiết, khách hàng có thể truy cập vào website: www.tanquang.vn hoặc vn.creative.com


Nhà phân phối và bảo hành chính thức của Creative tại miền Bắc: Công ty Cổ phần truyền thông đa phương tiện Tân Quang. Địa chỉ: 106 Trấn Vũ, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 04.3 715 1566; Email: info@tanquang.vn


Xem đầy đủ bài viết tại http://blog.sannhac.com/2009/05/23/showroom-creative-d%e1%ba%a7u-tien-t%e1%ba%a1i-vi%e1%bb%87t-nam/

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More
Ten mien dep